michaelpdo.com

Quê Hương

 

 
 
 
 
 

Trang Chủ

Truyện Dịch

Viết Về Lính

Quê Hương

Chuyện Tù

Nhận Diện Kẻ Thù

Chuyện Người

Các Bản Tin

Nhận Xét

Hội Luận

Tác Phẩm

Tiểu Sử

Gia Đ́nh

Liên Kết

Gửi Thư

Trang Anh Ngữ

 

 

Ai Về Chợ Huyện Gio Linh

  

Đỗ Văn Phúc

Người trẻ hướng về tương lai, người già nh́n lại quá khứ. Năm nay tôi đă sắp bước qua lục tuần, tương lai th́ chẳng c̣n bao lâu để phải lo tính, mà quá khứ th́ đầy những chuyện đau buồn, cam khổ của những năm tháng chiến tranh, tù đày. Nhưng cũng không thiếu những phần hào hứng lăng mạn của tuổi thanh xuân. Tôi đặc biệt có một trí nhớ tốt. Kư ức tôi c̣n ghi lại phần nào những h́nh ảnh hồi mới lên bốn, lên năm sống bên mẹ ở một miền đất xa, xa lắc xa lơ, tận địa đầu của miền Nam máu lửa những năm 1950.

Ngày đó, Gio Linh chưa phải là huyện cực bắc của tỉnh Quảng Trị. Phía bên kia cầu Hiền Lương lịch sử là huyện Vĩnh Linh, mà dưới triều Nguyễn có tên là phủ Minh Linh. Tỉnh Quảng trị hồi đó chỉ có các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Cam Lộ, Gio Linh và Vĩnh Linh. Sau này v́ nhu cầu chiến lược, các chính quyền Cộng Hoà đă đổi cấp huyện thành quận và lập ra thêm các quận Mai Lĩnh, Hương Hoá, Trung Lương.

Cách tỉnh lị Quảng Trị 25 cây số theo đường số một, chúng ta đến dốc đầu tiên của đèo Ba Dốc. Gọi là đèo nhưng chỉ có một khúc ngắn chừng cây số là quanh co và dốc đứng khoảng 30 độ. Phần c̣n lại là hai dốc phía nam chỉ hơi dợn sóng chút đỉnh, gọi là dốc th́ cũng oan cho nó.

Huyện lỵ Gio Linh ở sát hướng nam Chợ Cầu. Tôi không c̣n nhớ là có khúc sông hay đoạn cầu nào để đặt tên cho khu chợ nhỏ bé lụp xụp này. Chợ có hai dăy nhà chừng mươi căn vừa lầu vừa trệt hai bên. Phía tây là ngôi đ́nh nằm trên một cao điểm. Đ́nh có chừng 30 bậc cấp đi lên. Cổng tam quan kiến trúc hoàn toàn theo sắc thái Việt nam xưa, nghĩa là có 4 cột vuông đỡ lấy ba mái che hai tầng bằng ngói đỏ. Mái giữa có hai con rồng đối diện nhau đang tranh một quả châu. Hai góc mái là các các hoa văn uốn lượn vươn ra phía ngoài. Mặt tiền mỗi cột có các trang trí bằng mảnh thủy tinh, mảnh sành đủ màu kết thành đường viền bao quanh một hàng dọc những chiếc đĩa sứ màu xanh có h́nh sinh hoạt ngư tiều canh độc... Bên trong ngôi đ́nh th́ tôi hoàn toàn không nhớ thiết kế ra sao. Những năm tôi c̣n bé thơ, thường được chú người làm cơng lên đ́nh để học vỡ ḷng, dù rằng nhà tôi ở ngay bên hông chợ chỉ bước hai mươi bước là đến trường.

Mẹ tôi ngày đó c̣n trẻ, chồng bị Việt Minh bắt khoảng năm 1948. Mẹ tôi bồng con rời gia đ́nh chồng v́ không chịu nổi sự khắc nghiệt của kiếp làm dâu nhà phong kiến. Mẹ có căn nhà ngay góc chợ, sát với hàng rào tre của huyện lỵ. Nhà cơi lên một tầng gác sàn gỗ, phía dưới là sạp bán vải của mẹ. Bên phải là tiệm thuốc bắc của một chú người Hoa có đưá con trai trạc tuổi của tôi. Trong những chủ nhân của dăy nhà đối diện nay tôi chỉ c̣n nhớ tên của ông bà giáo Huyến. Có lần rắn hổ mang ḅ vào nhà ông, trở thành một biến cố sôi nổi trong đời sống buồn hiu của một huyện lỵ chắc chỉ có vài trăm dân cư. Chợ Cầu, sau này gọi là chợ Gio, có lẽ đă được nhắc đến trong câu hát ru con của các bà mẹ miền Trung:

 

Ru em, em théc* cho muồi,

Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu,

Mua vôi chợ Quán chợ Cầu,

Mua cau chợ Huyện, mua trầu chợ Dinh.

 Năm đó tôi lên bốn, c̣n ngủ với mẹ. Như hầu hết các trẻ miền Trung, tôi gọi mẹ bằng Mạ. Tiếng Mạ nghe nặng nề, nhưng ấm áp. Chỉ có một số gia đ́nh tân tiến ở Huế dùng tiếng Me; một phần nhỏ goị Má; các gia đ́nh quan lại gọi Mẹ đi kèm với Thầy thay cho Cha. Tôi không có kư ức nào về cha tôi; chỉ biết quanh quẩn bên mẹ. Tôi c̣n một người chị lấy chồng đang ở tỉnh lỵ Quảng Trị. V́ là con một nên tôi được mẹ cưng chiều hết sức. Tôi thường ṿi phải có bánh kẹo thưởng mỗi khi học bài. Hàng tháng, mẹ đi Huế để mua hàng. Tôi sợ xa mẹ, nên hể mẹ lên xe là tôi nằm lăn ra trước đầu xe đ̣ ăn vạ, không cho đi.

Nhà thỉnh thoảng mỗi chiều có các anh lính Việt Binh Đoàn đóng trên đồi Ba Dốc xuống chơi. Ông Đại úy Lam Sơn sau này là Tướng Tư lệnh binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt, làm chỉ huy đồn, phụ tá là Thượng sĩ Cử có chiếc răng nanh bọc vàng. Anh Cử đẹp trai, hiền lành và rất thương tôi, cuối tuần anh lái xe jeep xuống đón tôi lên đồn chơi; cho ăn chocolat và biscuit tây. Anh dắt ra tận lô cốt; đưa cho ống nḥm để quan sát về hướng Bắc, nơi có các làng Hà Trung, Lễ Môn đất đỏ ph́ nhiêu. Ngày đó các anh Việt Binh Đoàn mặc đồ kaki vàng, áo ngắn tay, quần sọoc. Trên đầu là chiếc mũ vải đi rừng vành rộng, chân mang giày săng đá. Các anh Việt Binh Đoàn là tiền thân của người lính Sư đoàn 1 Dă chiến, sau này là Sư đoàn 1 Bộ Binh anh hùng. Đồn Ba Dốc trong cuộc chiến dai dẵng đẫm máu chống xâm lược Cộng sản, chính là tiền đồn A-1 do một đơn vị của Trung đoàn 2 Hà Mă trấn nhậm. Một đêm, Việt Minh tấn công đồn, mẹ tôi đưa tôi xuống hầm tránh đạn cối pháo kích vào huyện lỵ. Tôi nghe rơ tiếng súng đủ loại của hai bên bắn nhau suốt đêm. Sáng ra nghe tin Thượng sĩ Cử đă trúng đạn và hy sinh; tôi buồn mất đến cả tháng khôn nguôi. Nhưng tôi vẫn c̣n các anh Phong, anh Nam đến thăm, bế ngồi lên đùi kể cho nghe chuyện chiến đấu.

Người bạn cùng lứa đầu đời, và cũng là địch thủ đáng sợ, là cậu Lê Đ́nh Ân. Ba của Ân là ông Lê Đ́nh Ngoạn, mẹ tôi gọi bằng cậu. Ông Ngoạn làm huyện trưởng Gio Linh. Ân lớn hơn tôi hai tuổi, rất nghịch ngơm. Cậu ỷ thế con ông Huyện, nên thường tập họp một đám trẻ con trong vùng ăn hiếp tôi. Có hôm cậu lừa tôi vào sân huyện rồi hô đám trẻ đang phục kích quanh đó nhào ra, vật tôi xuống và nằm đè lên ḿnh tôi cả mươi, mười lăm phút. Chỉ có d́ Tất là thương tôi. D́ c̣n trẻ, chưa chồng. Chiều chiều, d́ ra nhà tôi chơi; rót cho cháu một ly bia Đức cổ lùn mà nay tôi vẫn c̣n thèm hương vị đậm đà của nó. Sau này khi gia đ́nh tôi dời vô Đông Hà; tôi phải vào học Nguyễn Hoàng tại Quảng Trị, cùng lớp với Ân. Tôi có vài năm ở trọ nhà ông; hai đưá học chung, ngủ chung và cũng kết thành một cặp bài trùng nghịch nổi tiếng.

Bên phải ngôi đ́nh huyện, là con đường đất đỏ dẫn ra quốc lộ đi về làng Hà Trung, Hà Thượng. Phía tây con đường số một là làng Gia Môn, Lễ Môn. Nơi đây đất đỏ ph́ nhiêu. Dân làng trồng tiêu, chè cho lợi tức cao. Vườn nhà nào cũng có ít lắm là chục gốc mít, gốc ổi xá lị. Ngoài ŕa làng Lễ Môn là một cái bàu lớn. Thỉnh thoảng người ta tát bàu bắt cơ man nào là cá rô, cá trê, cá tràu. Thứ này nướng vàng lên ăn với nước mắm gừng là tuyệt.

Con đường xe lửa xuyên Việt trong chiến tranh bị cắt đứt từ ga Đông Hà, nhưng vẫn c̣n đầy đủ vĩ sắt và đường rầy ra đến tận Trung Lương. Những chiếc cầu xe lửa găy nhịp nằm chơ vơ trên ḍng sông nước xanh trong; là nơi bọn trẻ con thấy mọi hứng thú trong việc khai phá thám hiểm. Vùng này có nhiều mạch nước lạnh như nước đá. Người ta không phải đào sâu như các giếng thường. Chỉ chừng một hai thước là có nguồn nước tuôn ra. Họ dùng đá tổ ong xây làm hai ngăn. Ngăn trong chứa nước sạch, ngăn ngoài làm nơi tắm rửa. Chiều chiều sau một ngày làm việc đồng áng mệt nhọc, trai trẻ trong làng kéo nhau ra giếng nhúng ḿnh trong hồ nước lạnh mát vừa đuà cợt với các thôn nữ đang giặt giũ kế bên.

Gio Linh đa số dân nghèo, đời sống ảm đạm, thô sơ. Nồi cơm thường có những lát sắn khô hấp trên mặt. Món ăn chính là mắm cá; người ta dùng xơ mít ướt kho với mắm ăn vừa mặn vừa ngọt rất bắt cơm. Thỉnh thoảng có chút cá cơm kho mặn trong cái tộ bằng đất, ăn làm nhiều ngày. Mùa mưa đi bắt cá ngạnh về nấu với măng chua. Mùa nắng đi săn chuột đồng về hấp sả. Những năm bùng nổ chiến tranh Việt Pháp, nhiều thanh niên đă thoát ly gia đ́nh theo Việt Minh. Họ thường trở về lén lút trong bộ áo nâu, đôi dép lốp; được gia đ́nh tiếp tế cho chút khoai khô, mắm ruốc. Khi Cộng sản c̣n che ḿnh dưới lớp áo kháng chiến chống ngoại xâm, th́ Việt Minh dành được một chính nghĩa tuyệt vời. Chính nơi quê nghèo này, mà Phạm Duy đă sáng tác bài ca Ngựi Mẹ Gio Linh bất hũ. Nó diễn tả đến cùng cực nỗi đau xót, bất hạnh của người phụ nữ miền quê Việt Nam. Đau xót chồng chất đến độ mắt không c̣n nhỏ ra được giọt nước khi nghe tin con bị cắt đầu bêu thây.

 

… Nghe tin xóm làng kêu gào

Quân thù đă bắt được con,

Đem ra giữa chợ cắt đầu,

…….

Nghẹn ngào không nói một câu,

Đem khăn gói đi lấy đầu.

Đường về thôn xóm buồn teo,

Xa xa tiếng chuông chùa réo.

 

Nhưng khi Việt Minh bước vào giai đoạn khủng bố nhắm vào dân thường mà lẽ ra một tổ chức nghĩa quân không nên hành xử, hai chữ Việt Minh trở thành một ám ảnh ghê rợn đối với bất cứ người dân lành nào. Nghe đến Việt Minh là h́nh dung ngay cảnh mổ bụng, moi gan, chặt đầu, trấn nước. Đối với trẻ con nghịch ngợm, cứng đầu, phải dùng đến Việt Minh mới hù dọa nổi.

Chỉ cách Huế có 70 cây số ngàn, mà giọng nói người vùng Gio Linh rất khó nghe. Họ có thổ âm nặng, và dùng nhiều từ ngữ địa phương rất lạ. Tỉ như uống nước th́ thành ra uống “nác”; Trẻ con miền quê gọi cha bằng “bọ”. Họ thường đệm chữ “hà” theo sau các câu nói rủ rê: “đi chơi hà”. Theo đà này, th́ ra đến hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, th́ coi như hết hiểu được câu nào. (T́m đọc Đặc Ngữ Quảng Trị, cùng tác giả)

Vào những năm 50, tuy đă có những chuyến xe đ̣ nối các thị xă, ít người dùng xe để đi vào Đông Hà, cách Gio Linh hơn 10 cây số. Sáng tinh mơ, những đoàn người đa số là các bà, các cô gánh những gánh hàng nặng trĩu gồm các thổ sản vùng quê, đi nhanh như người ta lúp xúp chạy. Từng đoàn, vừa đi vừa tṛ chuyện râm ran cho đến chợ Đông Hà. Trưa, tan chợ, lại gánh những hàng hoá công nghiệp như giấy, vở, kẹo bánh, trà đường... đi nhanh về cho kịp làm bữa cơm tối cho chồng con. Xuân hè thu đông, dù mưa hay nắng, các bà cũng mặc những chiếc áo dài màu nâu hay đen thường là vá hai vai; v́ vai là nơi chịu sự cọ xát của chiếc đ̣n gánh bằng tre đặc nên chóng sờn rách. Ngày mưa th́ dân quê mặc chiếc áo tơi đan bằng lá. Áo tơi được đan theo h́nh một cái hộp tṛn không đáy. Phần trên h́nh vành khăn để tṛng qua đầu; phần trước hai mí sát bên trên và hở nhiều bên dưới. Có một sợi dây cũng xe bằng lá để cột ngay cổ. Khi đội thêm chiếc nón lá, và xoay phần lưng về hướng mưa hắt, th́ mưa dù to đến đâu, cũng không thể làm ướt nổi người mặc. Dĩ nhiên th́ nó trông cồng kềnh và nặng nề lắm; và nó giới hạn các động tác của người nông dân.

Sau năm 1954, khi Hiệp Định Geneve về ngưng bắn được kư kết, sông Hiền Lương được ấn định là ranh giới tạm thờI giữa hai miền Nam Bắc. Cầu Bến Hải được chia làm hai, sơn thành hai màu phân định: phía Nam màu xanh thuộc lănh thổ Quốc gia, phía Bắc màu đỏ thuộc phe Cộng Sản. Trên đỉnh đèo Ba Dốc là trạm kiểm soát của Ủy Ban Quốc Tế Giám sát Đ́nh chiến. Tự nhiên, da thịt Quảng trị bị chia cắt. Huyện Vĩnh Linh nằm lọt vào bờ Bắc Vĩ tuyến 17. Bài hát đầu tiên nói lên nỗi uất hận chia cắt này là Chuyến Đ̣ Vĩ Tuyến trong đó có câu than thở thật da diết của một cô gái Gio Linh có người yêu bên kia sông nay đành chia loan rẽ thúy:

 

“Đêm nay trăng sang quá anh ơi.

Tim em lạnh lẽo như chiều đông ngoài biên thuỳ

Ai gieo chi khúc hát phân ly,

Cho khơi niềm nhớ cuộc từ ly ḷng năo nùng.

……

Sao ta ĺa cách bởi ḍng sông bạc hai màu...”

 

Phương Nam thanh b́nh không lâu, Gio Linh lại trở thành những tuyến đầu lửa đạn của cuộc chiến tranh dài, ác liệt, và đẫm máu máu nhất trong lịch sử đất nước. Mẹ tôi dời vào Đông Hà làm ăn buôn bán. Tôi chỉ trở lại thăm Gio Linh sau này khi quận ly và khu chợ đă dời sâu vào phía đông quốc lộ.

Tuổi thơ tôi chứng kiến sự đổi chủ của miền Nam khi ông Ngô Đ́nh Diệm tổ chức trưng cầu dân ư để truất phế vua Bảo Đại. Khí thế cách mạng sôi nổi những ngày đầu thu năm 1955. Khắp các con đường dán đầy các h́nh ảnh kết tội vua Bảo Đại, song song với bức ảnh tươi cười của nhà chí sĩ họ Ngô đang giơ cao cánh tay vẫy chào toàn dân miền Nam. Tôi nhớ nằm ḷng câu khẩu hiệu: Xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ b́. Ư nhắc nhở người cử tri phải vứt lá phiếu xanh của Bảo Đại, và bỏ vào thùng lá phiếu màu đỏ chọn ông Diệm.

Thế là chế độ cộng hoà khai sinh. Ngày ngày tiếng loa nơi góc chợ ra rả những bài hát tung hô cụ Ngô “Ngô Tổng thống, người về đây, đưa dân tộc lên vinh quang chiến thắng...”

Phải thành tâm mà đánh giá, th́ thời đệ nhất cộng hoà thật yên vui, thanh b́nh và no ấm. Đông Hà trở thành một trung tâm thương măi và quân sự lớn, v́ đây là ngă ba đường nối liền quốc lộ Nam Bắc và quốc lộ 9 đi sang Savanakhet, Lào. Thị trấn Đông Hà trở nên nơi buôn bán sầm uất. Năm 1954, nhà máy điện Đông Hà đă cung cấp điện dùng cho cư dân mỗi ngày từ 5 giờ chiều cho đến 6 giờ sáng. Con đường xe lửa xuyên Việt được tái lập năm 1959 với các đầu tàu bằng Diesel do Đức trang bị. Nhưng ga Đông Hà vẫn là trạm chót của con đường xuyên Việt.

Khu phố buôn bán Đông Hà ngắn, có hai con đường chính song song bắt đầu từ dăy thành đá làm căn cứ quân sự kéo dài đến bờ sông Hiếu Giang. Một đầu là bến xe đ̣, đầu kia là chợ. Chợ Đông Hà tấp nập gấp chục lần chợ Gio Linh, náo nhiệt suốt ngày. Đặc biệt thực phẩm có đủ loại. Cá tôm từ biển Cửa Việt lên c̣n tươi rói, cá sông, cá hồ không thiếu thứ chi.

Phía trên nhà ga Đông Hà, thời đó có rạp chiếu bóng “33”. Văn hoá Hoa Kỳ bắt đầu xâm nhập từ đây. Tôi làm quen với thứ văn minh điện ảnh này khởi đầu là phim Viva Las Vegas và Quo Vadis, sau đó là các phim Tarzan, cao bồi.

Xứ Đông Hà nhỏ, nên gần như ai cũng biết nhau. Cư dân, dù ở khắp mọi miền đất nước về lập nghiệp, đối xử với nhau thân t́nh như bà con.

Đông Hà đặc biệt có một phi trường dân sự ở Dốc Sỏi, phía Nam thị trấn. Nói là phi trường cho nó oai, chứ thực ra chỉ có một phi đạo dài khoảng một cây số, và một căn nhà gạch nhỏ như cái cḥi gọi là trạm đi, đến. Trong pḥng chơ vơ vài chiếc ghế đẩu. Khách mua vé trước hàng tuần, tập trung tại một văn pḥng nhỏ trong villa của nhà triệu phú Trần Thiện Thành sát ga xe lửa đề được xe buưt đưa ra phi trường. Mỗi tuần vài lần có các chuyến bay 2 động cơ chong chóng của hăng Cosara đi, đến từ Huế và Saigon. Dân Quảng Trị phải ra Đông Hà để lên máy bay; thường chỉ có những người giàu có hoặc viên chức chính phủ mới có khả năng sử dụng phương tiện văn minh này. Sau này, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ mở rộng làm phi trường quân sự cho các loại máy bay lớn lên xuống tấp nập suốt ngày đêm. Tưởng cũng nhắc lại Dốc Sỏi là nơi giải quyết vệ sinh cho cư dân Đông Hà, v́ vào những năm đầu thập niên 1950, đại đa số dân chưa có nhà vệ sinh trong nhà. Cứ sáng sớm tinh mơ, từng đoàn người nam có nữ có, già trẻ lớn bé rủ nhau “đi đồng”. Dốc Sỏi rộng, có các lùm cây mà nhiều nhất là sim, tha hồ vừa ngắm trời mây vừa làm công tác đệ tứ khoái.       

Trường Tiểu học Đông Hà có 5 pḥng cho năm lớp. Trước khi vào trường tiểu học, tôi có một thời gian ngắn học với thầy Ban. Thầy dạy tại gia, có chừng mươi học tṛ. Sau đó qua trường lớp đàng hoàng, tôi học lần lượt với cô Nga, thầy Hạnh là những vị khai sáng cho trí tuệ tôi để biết đến thế giới bao la bên ngoài. Đông Hà có một trạm y tế làm bằng nhà ṿm tiền chế do Mỹ quốc viện trợ. Nhưng đa số người bệnh thường nhờ đến các cô y tá chích dạo trong đó có chị Thảo, mà sau năm 1975 mới vở lẽ ra là nằm vùng làm t́nh báo cho Việt Cộng. Anh Khiết cũng làm y tá chích dạo thân quen với gia đ́nh tôi. Năm 1964, anh mất tích. Cả người lẫn chiếc xe gắn máy biến mất không để lại tăm vết. Chị vợ sau một thời gian t́m kiếm vô vọng bèn mở một gian hàng nhỏ buôn bán nuôi bầy con 5 đứa. Cũng sau này nghe đâu anh Khiết đi theo Việt Cộng, có về lén thăm nhà trong vụ Việt Cộng tổng công kích tết Mậu Thân.

Tôi rời Đông Hà năm 1965, lúc đó thị trấn nhỏ bé này đă trở thành căn cứ tiền phương của Sư Đoàn 1. Quân nhân các binh chủng xuất hiện tấp nập trên các con đường. Các toán Biệt Kích xâm nhập miền Bắc cũng xuất phát từ Đông Hà. Họ mặc quân phục lạ mắt, hoặc nguỵ trang da beo hoặc bà ba đen; trang bị các vũ khí tối tân gọn nhẹ. Sau khi chiến tranh leo thang, quân chiến đấu Hoa Kỳ đổ bộ hàng loạt. Sư đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến Mỹ lập doanh trại từ Ái Tử kéo dài ra Đông Hà. Phi cơ quân sự ngày đêm lên xuống phi trường, tung bụi đỏ lên mù trời. Cũng từ đây, Đông hà hàng ngày đêm nhận hàng chục trái đạn pháo của Việt Cộng từ các làng mạc xa bắn vào. Đời sống bắt đầu căng thẳng. Nhà nào cũng làm một căn hầm nổi phủ vài lớp bao cát để tránh đạn. Riết rồi cũng quen, coi như một sinh hoạt thường ngày không thể thiếu được. Và nhiều người đâm ra ĺ lơm, chẳng thèm chui vào hầm mỗi khi nghe tiếng réo đạn đi. Họ học được kinh nghiệm của người lính; đoán biết đạn sẽ nổ ở đâu dựa trên tiếng hú của đường đạn.

Thế rồi, biền biệt 25 năm sau, trên đường đi Hà Nội nhận thông hành xuất cảnh, tôi mới có dịp ghé qua Đông Hà và ngủ lại một đêm nơi đây. Đông Hà không bị tàn phá như thành phố Quảng Trị. Khu phố nhỏ vẫn như xưa; h́nh như có vẻ buồn hơn. Nhưng khu chợ th́ mở rộng ra rất nhiều. Hàng hoá tràn ngập các thứ. Đa số là đồ dỗm nhập từ đường Lào hay hàng Trung Cộng. Đây là đầu mối bán sỉ đưa hàng ngược vào Nam, ra Bắc.

Do làn sóng người di tản từ các làng mạc xung quanh trong thời cao điểm 72-75, khu dốc Sỏi xưa là chỗ đất hoang, nay trở thành những xóm nhà chi chít. Đông Hà trở thành tỉnh lỵ của Quảng Trị khi Việt Cộng tái phân tỉnh B́nh Trị Thiên trở lại thành ba tỉnh như thời trước 75.

Cảnh cũ th́ c̣n đó, mà người xưa th́ t́m mỏi mắt không thấy.  Qua cuộc chiến mười phần chết bảy c̣n ba, chết hai c̣n một... th́ một này lại đi lưu lạc xứ nào mất rồi. Tôi t́m qua căn nhà xưa đă nhiều lần thay đổi chủ. Đứng cách một con đường nhỏ, nh́m chăm vào gian nhà tối tăm, tôi như mường tượng thấy h́nh ảnh mẹ tôi ngồi tính sổ trên chiếc sạp gỗ mun. Mẹ già ngước đôi mắt nh́n lên và như vui mừng nói: “Con đă về, bao năm xa vắng, con lại về...”