Michael Do

Vườn Địa Đàng

 
 
 
 
 

 

Trang Chủ

Truyện Dịch

Viết Về Lính

Quê Hương

Chuyện Tù

Nhận Diện Kẻ Thù

Chuyện Người

Các Bản Tin

Nhận Xét

Hội Luận

Tác Phẩm

Tiểu Sử

Gia Đình

Liên Kết

Gửi Thư

Trang Anh Ngữ

 

 

 Bé Túc

Little Tuk

 

 

Có một chú bé tên Túc. Thực ra tên chú không phải là Túc, nhưng chú tự  đặt cho mình tên ấy vào cái tuổi mà chú chưa phát âm rõ tên thật của mình. Chúng ta tưởng cũng nên biết tên thật của chú nhỏ là Carl, chú cho rằng Carl hay Túc thì cũng na ná như nhau. Hàng ngày, chú phải trông coi đứa em gái tên Gustave, và mỗi khi phải học bài thì thật khổ tâm cho chú, vì chú không thể làm hai việc trong một lúc được. Chú phải đặt em ngồi trên đùi, hát ru em bằng tất cả những bài hát mà chú biết, rồi thỉnh thoảng liếc sang cuốn tập để đọc những bài địa dư. Bởi vì sáng hôm sau, chú phải thuộc nằm lòng tên những đô thị của nước Zealand cũng như dân số, sinh hoạt của dân cư trong đó.

A! mẹ đã về, bà bế em Gustave để Túc rảnh tay học bài vì trời cũng đã sắp tối; và mẹ thì nghèo không đủ tiền mua đèn cầy cho chú.

“Này con, con chịu khó chạy xuống cầu thang giúp cho bà cụ mang giỏ áo quần lên, khéo ngoan.” Bà thấy một  bà thợ giặt già đang xoay sở với một giỏ áo quần mà không làm sao mang lên thang gác được.

Túc chạy vội xuống cầu thang khuân giúp bà cụ và khi trở lên phòng thì trời đã tối hẳn; chẳng có đèn đóm gì, thôi đi ngủ vậy. Chú lật chiếc giường mà ban ngày xếp lại trên tường, nằm miên man nghĩ đến bài học địa dư, về hòn đảo Zealand, về những điều mà thầy vừa dạy sáng nay. Ðáng ra chú phải thuộc bài mới, nhưng đành vậy, biết sao bây giờ. Chú đặt cuốn sách địa dư dưới gối nằm, vì chú tin rằng làm thế sẽ giúp cho chú nhớ được bài học.

Chú cứ nằm suy nghĩ mãi cho đến khi chú cảm thấy như có ai đó đang cúi xuống hôn lên đôi mắt và môi chú và chú thiếp đi, nhưng vẫn chưa chìm sâu vào giấc ngủ. Chú mơ màng thấy bà cụ già giặt ủi đang đứng trước mặt, nhìn chú hiền từ và nói: “Cháu không thuộc bài ngày mai thì cũng đáng lo lắm. Nhưng vì cháu đã giúp bà, bây giờ bà lại giúp cháu, và vì cháu có lòng tốt, Chúa nhân từ sẽ luôn luôn theo bên để giúp cháu.” Lập tức, cuốn sách dưới gối nằm của Túc nhảy ra và phát ra tiếng: “crip, crap.”

Một con gà trống xứ Kioge xuất hiện: “Tục, tục, tục, ta là con gà thành Kioge.” Gà kể cho Túc nghe về dân tình ở thành phố Kioge, có bao nhiêu dân, làm ăn ra sao, các trận đánh đã diễn ra thế nào... Tiếp đó là con chim gỗ từ xứ Praesto nói về thành phố mình, chim hãnh diện khoe: “Thorvaldsen cũng từng ở sát cạnh nhà tôi, đó là một thành phố đẹp hiếm có.”

Chú Túc thấy mình ngồi trên mình ngựa, ngựa phi nước kiệu đường xa. Chú thấy một hiệp sĩ oai vệ trong bộ giáp bạc, trên đầu là chiếc nón sắt với chùm lông phất phơ. Hiệp sĩ dẫn chú đi qua những khu rừng đến thành phố cổ Vordingborg, nơi đông đúc dân cư và sinh hoạt sầm uất. Cung điện của vua được bao bọc bởi những toà lâu đài với những tháp canh sừng sững; ánh sáng chiếu qua các khung cửa sổ, nơi vọng ra tiếng nhạc của đám người quý tộc đang khiêu vũ. Nhà vua Waldemar đang dẫn đầu một đoàn những bà xinh đẹp ra sàn nhảy. Ðêm tàn, bóng mặt trời bắt đầu ló dạng, cả cung điện, hoàng thành từ từ biến mất, thành phố nhỏ và mờ nhạt dần rồi cũng mất dạng. Chỉ thấy một đoàn học sinh cặp sách vở đến trường, vừa đi vừa đọc: “Trong thành có hai ngàn dân cư.” Thực ra thì có ít hơn thế.

Chú bé Túc vẫn còn nằm trên giường; thoạt đầu, chú nghĩ mình vừa trải qua một cơn mơ, rồi chú lại cho rằng chính là thực , mơ và thực, chú hoàn toàn không biết chắc, nhưng chú biết chắc một điều, là có một ai đó ở gần chú lúc này.

Ðó là một anh thủy thủ tí hon, có lẽ là một thủy thủ tập sự. Anh nói với chú: “Chú Túc, Chú Túc! Thay mặt thành phố Korsoer, ta đón chào chú chân tình.” Korsoer là một thành phố đang phát triển, ngày xưa nơi đây buồn tẻ lắm, nhưng nay phồn thịnh trở lại nhờ kỹ nghệ hoá. Korsoer thường tự hào: “Tôi nằm sát bờ biển, có những con xa lộ thênh thang, những khu công viên xinh đẹp. Xứ tôi đã sản sinh ra những nhà thơ vĩ đại. Tôi muốn gửi con tàu ra bốn biển báo cho toàn thế giới hay về cái đẹp của xứ tôi.”

Chú Túc quả nhìn thấy những giàn hoa trắng đỏ tím vàng trải qua trước mặt chú; rồi lại biến dần đi, thay vào đó là những cây cột gỗ cao ngất dàn trải ra tận mặt nước trong veo của một cái vịnh nhỏ. Chú thấy một tháp chuông nhà thờ cổ kính hiện trên nền trời; những giòng nước mát từ những khe đá chảy róc rách tuôn ra, tạo thành những bọt nước trắng xoá. Gần nơi đó, trên chiếc ngai vàng lộng lẫy, Túc thấy vua Hroar của xứ Springs và Roeskilde (thủ đô cũ nước Ðan mạch) với chòm râu trắng xóa. Xa hơn một chút là Vua và hoàng hậu đang tay trong tay đi thơ thẩn về hướng nhà thờ. Rồi tất cả lại biến mất! Túc ngẩn người chẳng rõ họ biến đi hướng nào.  Một người đàn bà quê đứng trước mặt chú, bà từ Soro đến với cái tạp dề bằng vải thô xám che phủ trên đầu và choàng qua vai. Ở đó chắc đang mưa, vì chú thấy bà ướt đẫm. Bà kể cho Túc nghe những đoạn vui trong vở kịch của Holberg, bà biết tường tận về Waldemar và Absalom; khi bà sửa soạn kể cho chú nghe thì tự nhiên thân hình bà co lại còn nhỏ xíu như con búp bê. “Oạp oạp,” bà nói, “trời mưa ướt át quá thể, cái xứ Soro cứ như là vũng nước.” Bà biến thành con nhái, rồi lại biến thành người đàn bà như cũ. “Người ta phải ăn mặc theo thời tiết! mưa quá xá, mưa nhiều làm cho xứ tôi cứ như là vũng nước. Ngày xưa, tôi có những chú cá vàng xinh xắn, nay chúng trở nên những đứa bé có đôi má hồng hồng, chúng học những điều khôn ngoan vô cùng.” Giọng bà nói đều đều nghe như tiếng con ểnh ương kêu trong cơn mưa làm cho chú Túc thấy nhàm chán và chú chìm sâu vào giấc ngủ muộn màng.

Tuy thế, chú vẫn không thoát khỏi giấc mơ kỳ lạ.  Chú thấy em Gustave, với đôi mắt xanh và mái tóc vàng xoăn tít, lớn lên dần và dù không có đôi cánh như các thiên thần, hai anh em chú cũng bay được lên không trung. Chúng bay qua rừng xanh đến tận xứ Zealand.

“Chú có nghe tiếng gà gáy xa xa không? Cúc cô ri cồ. Ðó là những con gà mái từ xứ Kioge. Chú sẽ có một sân đầy những con gà tơ xinh xắn. Chú sẽ trở thành người giàu có và hạnh phúc. Chú sẽ có căn nhà đẹp như cung điện vua Waldemar, trang trí bằng những bức tượng cẩm thạch như Presto.  Khắp thế giới sẽ biết đến tên chú với sự ngưỡng mộ.”

“Chú sẽ ăn nói khôn ngoan và khi hết đời, chú sẽ được ngủ một giấc ngủ an bình như ...”

“Như thể trong xứ Soro!” Túc nói tiếp và thức dậy. Trời đã sáng trưng, chú chẳng còn nhớ gì về giấc mơ cả. Nhưng như thế cũng phải, vì người ta chẳng nên nhìn lại quá khứ.

Chú nhảy ra khỏi giường và cầm lấy cuốn sách đọc ngấu nghiến. Bà già giặt mướn thò đầu qua cửa sổ, nhìn chú gật gù :

“Già cảm ơn chú nhiều nhé, chú bé đáng yêu. Cầu Chúa sẽ cho chú đạt được ước vọng.”

Chú bé Túc chẳng nhớ tí gì về những điều đã xảy ra trong cơn mơ, nhưng trên cao kia, có Ngôi Hai Chúa trời biết đến rất rõ.