|
Michael Do Chuyện Trong Tù
|
||||
|
|
||||
|
|
Cuối Tầng Địa Ngục
Đỗ Văn Phúc
Chương 3 Trại Tù Hàm Tân
Phần 3: Ngoại Xâm và Nội Thù, Anh Bênh Ai? Cùng với tin đồn Mỹ sẽ rước anh em tù cải tạo, tin phái đoàn Liên Hiệp Quốc đến thăm trại loan đi rất nhanh. Anh Trần Công Linh[1] là người sốt sắng nhất trong vụ loan các tin tức. Tôi b́ết anh Linh từ ngày mới vào lớp đệ thất trung học. Anh học trên tôi hai ba lớp, là mẫu người lư tưởng của chúng tôi thời đó. Anh cao, giọng nói sang sảng, có tài đóng kịch, chơi bóng chuyền giỏi. Trước 75, anh phục vụ ở Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân, phụ trách Hướng Đạo Quân Đội. Gặp nhau trong tù sau hàng chục năm, anh vẫn thế. Nhưng h́nh như sau lần bị tai nạn xe hơi với vết thương đầu trầm trọng, anh có vẻ khủng hoảng thần kinh. Anh khoe với tôi rằng anh là Tư lệnh Sư đoàn Bạch Mă. Trong đêm xảy ra vụ nổ kho đạn Long Khánh (cuối năm 1975), sư đoàn do anh chỉ huy “nằm phục kích dưới các ống cống thủ đô Sài G̣n chờ lệnh tổng khởi nghĩa” (sic!) Thấy tôi cười tỏ vẻ không tin, anh nạt: - Không biết ta nói cho nghe. Mi mà c̣n ở ngoài, theo kháng chiến, cũng làm tới Đại tá là ít! Sống trong hoàn cảnh mong mỏi hàng năm dài, ai ai cũng muốn nghe những tin thật lạc quan về cuộc kháng chiến của Phục quốc quân. V́ thế, các tù nhân trẻ thường mời Trần Công Linh đến nói chuyện. Anh như một sứ giả đem lại niềm tin và hy vọng cho anh em tù nhân đă quá khát khao.
Ban Chỉ Huy trại và chúng tôi đă chuẩn bị chu đáo cho chuyến viếng thăm của phái đoàn Liên Hiệp Quốc theo hai chiều hướng đối nghịch. Phần trại, th́ ra lệnh làm vệ sinh trại thật kỹ lưỡng, và đưa các đội “phản động” đi thật xa để không thể tiếp xúc với phái đoàn. Bệnh xá được chỉnh trang lại. Giường bệnh có kê thêm tấm khăn trải giường màu trắng. Trên bàn bệnh nhân có chai nuớc lọc, hộp sữa, ly chén sạch bóng. Phần chúng tôi, biết không thể gặp được phái đoàn, tôi đă thảo một bản văn bằng Anh ngữ dài hai trang kể hết t́nh cảnh sinh hoạt, điều kiện sống, sự đối xử đầy áp bức của chính quyền để kêu gọi quốc tế can thiệp. Tôi lẻn đến bệnh xá giao lá đơn cho anh Nguyễn Pháp (khoá 3 Đại học Chiến Tranh Chính Trị)[2]. Anh Pháp là người can đảm và nhiệt t́nh. Tuy bị bệnh nội thương trầm trọng, nếu bị phát giác có thể bị cùm kẹp, nguy hiểm đến tính mạng. Ngoài ra, anh cũng có hy vọng về trong các đợt sắp tới. Nhưng anh đă sốt sắng nhận lời tôi để t́m cách trao cho phái đoàn Liên Hiệp Quốc nếu họ vào thăm bệnh xá. Rốt cuộc, mọi sự chuẩn bị trở thành vô ích. Phái đoàn đă không thấy tới thăm trại. Mỗi lần đến ngày lễ lớn của Việt Nam Cộng Hoà, chúng tôi luôn luôn có những hoạt động rất ngoạn mục. Đêm 19 tháng 6 năm 1978, trong không khí thanh vắng của toàn trại đang ch́m vào giấc ngủ say, bỗng có tiếng cất lên dơng dạc từ dăy sàn ngủ đối diện của tôi: - Nhân kỷ niệm ngày Quân Lực, tôi cầu nguyện cho đất nước sớm hết đau thương, nhân dân Việt Nam được tự do hạnh phúc, thoát khỏi gông cùm Cộng Sản. Báo hại cả nhà phải bị đánh thức bởi hàng chục công an đang rầm rập chạy vào. Chúng bắt đi anh Nguyễn Ngọc Đạt, nguyên là một Đại đức Phật giáo. Thầy Đạt là người dị tật – hai bàn chân thầy, mỗi bàn có 6 ngón - lại có một tính khí bất khuất vô úy. Có lần thầy ngồi đọc kinh trong mùng. Tên công an đi tuần thấy vậy, hỏi: - Mày nàm ǵ giờ lày không ngủ? - Tao làm ǵ kệ tao. - Á! Anh lày dám hỗn, xưng với cán bộ bằng mày tao. - Th́ cán bộ gọi tui bằng mày trước, vi phạm chính sách.
Tôi cũng đôi lần thả truyền đơn trong sân trại. Truyền đơn vẽ trên giấy học tṛ xé làm tư. Các tranh thường là h́nh ảnh người lính Cộng Hoà, ảnh Hồ Chí Minh với đôi răng nanh sắc bén, h́nh đồng bào đang kéo cày thay trâu, h́nh đảng viên Cộng Sảnto béo ngồi trên xe do những đồng bào gầy đói kéo đi sắp sa xuống vực sâu. Thả truyền đơn cũng dễ dàng thôi. Buổi sáng, khi các nhà mới mở cửa cho trực viên đi lấy thức ăn sáng, tôi lững thững đi một ṿng xuống bệnh xá rồi trở về. Đến chỗ bất ngờ nhất, ít ai chú ư th́ vứt nguyên một nắm truyền đơn xuống. Vài lần trại đă đuổi hết các đội vào nhà, khoá lại để truy t́m ra người rải truyền đơn, nhưng vô hiệu quả. Một lần, khi đội chúng tôi từ suối kéo về cổng trại, tôi đi sau cùng với Mai Huy Thạc[3]. Chúng tôi lách qua hàng ngũ một đội khác. Thạc quan sát phía sau cho tôi thả truyền đơn. Nắm giấy vừa rơi xuống, tôi vội vàng lách người về phía đội ḿnh th́ bỗng nghe tiếng anh Phang Gi On kêu lại - Anh Phúc, anh làm rớt giấy tờ ǵ ḱa! Thạc hốt hoảng vơ vội tất cả những tấm giấy nhỏ rồi chạy theo tôi. Hoá ra Phang Gi On, v́ lề mề, nên bị rớt lại đàng sau. Anh đă theo sau chúng tôi mà chúng tôi không hay biết. Anh Phang Gi On cũng là một hiện tượng đặc biệt. Cho đến sau này, chúng tôi hoàn toàn không rơ là anh khùng thật hay giả khùng. Anh người gốc Hoa, tên Hán Việt là Phương Nghĩa An. Anh dạy Anh Ngữ tại trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam, trí tuệ thông thái, tính t́nh hoà nhă, hiền lành. Nhưng anh thường phát ngôn rất bừa băi và nguy hiểm. Anh có lần báo cáo với cán bộ là anh thấy một anh tù đưa gái vào làm t́nh ngay trong nhà giam, có lần anh báo cáo có nguyên một đám tù trốn trại. Toàn là những chuyện do anh tưởng tượng ra. Trong những lần sinh hoạt, anh nói năng lung tung như người mất trí. V́ thế, ngay cán bộ an ninh trại cũng chẳng quan tâm đến những điều anh nói.
Khoảng năm 1977, khi c̣n ở trại Suối Máu chúng tôi đă đọc nhiều tin tức về mối t́nh “Hữu nghị keo sơn gắn bó của hai đồng chí Việt Hoa” đă chuyển qua giai đoạn chua chát đi đến hận thù. Báo Nhân Dân – cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản – đă dùng những nhóm chữ rất xấc láo để gọi nhà cấm quyền Trung Cộng như: bè lũ bốn tên, bọn bành trướng bá quyền… Trong một bài viết đăng trên báo Nhân Dân, một nữ đảng viên cao cấp trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản đă chua chát viết: “Hồi đó (năm 1949, khi Trung Cộng chiếm Hoa Lục), tin vui thắng lợi của bạn đến trên khắp các chiến hào. Chúng ta đă reo mừng đến chảy nước mắt…. Tại sao giờ đây họ trở mắt? Nghĩ lại, hoá ra ngày đó ḿnh quá ngây thơ để tin tưởng vào t́nh đồng chí thắm thiết xă hội chủ nghĩa!...” Thực ra th́ chẳng biết nên kết án ai trở mặt với ai! Trong chiến tranh, Trung Cộng đă chi viện gần như hoàn toàn cho các nhu cầu của Việt Cộng. Từ quân viện, vũ khí súng đạn, xe tăng máy bay, hoả tiễn… cho đến lương thực, quân trang… không những cho quân đội, mà cho cả hơn chục triệu dân miền Bắc. Kinh tế miền Bắc đă không sản xuất ra được thứ ǵ, mà phải hoàn toàn lệ thuộc quan thầy Trung Cộng. Khi hoà b́nh, chiếm được miền Nam, chính đám Cộng Sản Bắc Việt, đứng đầu là Lê Duẩn, đă quay lưng lại với Trung Cộng mà chạy bám theo Liên Bang Sô Viết. Thêm vào đó, việc Việt Cộng đánh Khmer Đỏ và chiếm đóng Kampuchea vừa bị thế giới lên án, vừa gây thêm thù với Trung Cộng v́ Pol Pot, Ieng Sari vốn là đệ tử của Trung Nam Hải. V́ thế, hậu quả tất yếu là một sự trả thù của Trung Cộng đă nổ ra vào đầu năm 1979.
Một buổi tối khoảng tháng Hai, chương tŕnh phát thanh thường lệ của đài Tiếng Nói Việt Nam phát đi từ Hà Nội bổng ngưng lại và bắt đầu phát đi những bản hành khúc. Rồi đột ngột, từ những chiếc loa ở các góc trại, chúng tôi nghe tiếng thất thanh của cô xướng ngôn viên - Quân Trung Quốc đă đánh vào các tỉnh biên giới Việt Trung… Tức th́ trong trại vang lên những tiếng ồ vừa ngạc nhiên vừa khoái trá. Ḷng căm hận đối với chế độ Cộng Sản đă lên cao đến mức mà những con dân Việt Nam đă tỏ ra khích động, mừng rỡ khi thấy nổ ra cuộc chiến giữa hai nuớc anh em đồng chí vốn “núi liền núi, sông liền sông. T́nh hữu nghị sáng như rạng đông![4]”.
Chúng tôi nghĩ lại, buồn cho thân phận ḿnh, những người Việt Nam bị vong thân ngay trên quê hương, phải coi kẻ thù đồng chủng là nguy hiểm hơn kẻ thù ngoại chủng. Thật là oái oăm mà chỉ những ai ở trong hoàn cảnh mới thông cảm được. [1] Trần Công Linh hiện ở Đức Quốc [2] Nguyễn Pháp nay ở San Jose, California [3] Mai Huy Thạc hiện ở Pasadena (Texas). [4] Một đoạn trong bài ca T́nh Hữu Nghị Việt Trung của Cộng Sản Bắc Việt từ thập niên 1950 thường nghe ra rả trên Đài Hà Nội.
|
|||
|
|
||||