Michael Do

Viết Về Lính

 
 
 
 
 

Trang Chủ

Truyện Dịch

Viết Về Lính

Quê Hương

Chuyện Tù

Nhận Diện Kẻ Thù

Chuyện Người

Các Bản Tin

Nhận Xét

Hội Luận

Tác Phẩm

Tiểu Sử

Gia Đ́nh

Liên Kết

Gửi Thư

Trang Anh Ngữ

 

 

 

KBC Hải Ngoại Xuân Đinh Hợi:

chuyện cũ vẫn c̣n nóng hổi của lính
Báo Người Việt, California ra ngày Thứ Ba, February 06, 2007

 

 

An Pha

 

“Đồn anh đóng bên rừng mai

Nếu mai không nở anh đâu biết xuân về hay chưa...”

 

Một ngẫu nhiên, câu hát mà tôi thích lại được dùng làm minh họa cho b́a một giai phẩm xuân của lính: KBC Hải Ngoại Xuân Đinh Hợi 2007. Tuy từ cách tŕnh bày cho đến việc chọn font chữ, vẫn c̣n cái vẻ ǵ đó tài tử chứ chưa hẳn là chuyên nghiệp, nhưng b́a tờ báo có thể làm cho những người từng mặc áo lính, từng nằm tiền đồn thấy ḷng chùng xuống v́ những kỷ niệm cũ một thời sống lại. KBC Hải Ngoại là tờ báo của những người lính, những người viết báo không chuyên. Ấy vậy mà ban điều hành tờ báo đă thổi được tiếng kèn tập họp những tên tuổi không ngờ: Phạm Cao Dương, Ngô Nhân Dụng, Nguyễn Xuân Nghĩa, Vơ Long Triều, Phan Nhật Nam, Thảo Trường, Mau Viết Triết, Trường Sơn Lê Xuân Nhị, Đỗ Văn Phúc, Vann Phan, Nguyên Huy. Những tên tuổi này xen lẫn với những cây bút lính chuyên viết về lính như Lính Già Biên Pḥng, Mũ Nâu, Lê Tường Vũ, Ngô Xuân Hùng, Mường Giang, Bảo Định... có thể làm cho khối độc giả lính cảm thấy ấm hơn dù rằng ảnh hưởng của luồng lạnh từ miền Bắc Mỹ thổi xuống làm cháy lá cây những ngày cận Tết vẫn c̣n.

Dù cuộc chiến Việt Nam đă chấm dứt cách đây 32 năm, nó vẫn như đóm hỏa châu soi sáng những đêm gác giặc. Và cho dù quân đội Việt Nam Cộng Ḥa chỉ c̣n là kỷ niệm, đề tài lính là những khơi nguồn không bao giờ cạn cho bất cứ cây viết nào c̣n biết yêu lính. Mùa Xuân và người lính có lẽ là hai thái cực. Nhưng vui xuân không quên nhiệm vụ đă trở thành h́nh ảnh vô cùng lăng mạn trong khói lửa chiến tranh đằng đẵng những năm dài. Bởi thế, mở những trang đầu của giai phẩm, người đọc có thể thấy ngay cái nền móng vững vàng để xây dựng niền tin qua bài “Mùa Xuân cho những người lính cũ- Anh không chết đâu anh trong ḷng một Việt Nam tự do và dân chủ” của cựu sinh viên sĩ quan trường Bộ Binh Thủ Đức, anh Vann Phan. Đây là một bài lư luận dễ đọc, bởi tác giả dựa vào những biến cố cận kề với lính để viết với cả tâm huyết của ḿnh với hy vọng trả lời những điều nay vẫn c̣n là ẩn số.

Tân Hợi 1971 và Đinh Hợi 2007, thời gian cách xa nhau đúng 36 năm. Hơn ba thập niên mà đă là hai thế kỷ, nhưng ấn tượng mạnh mẽ về việc “Phải cắm cờ Việt Nam trên làng Th'Pong trước lúc hừng sáng” vẫn chưa phai mờ trong ḷng người lính cũ Đỗ Văn Phúc, thuộc Tiểu Đoàn 4/8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Đây là kết quả của cuộc hành quân ngoại biên tấn công vào những mục tiêu của cộng quân trên địa bàn tỉnh Kratie, Căm Bốt. Bài báo được trang điểm bằng nhiều h́nh ảnh của các chiến trường khác nhau tại lănh thổ Quân Đoàn III mà Sư Đoàn 5 Bộ Binh từng tham dự. Trong số những h́nh ảnh gây ấn tượng, lạ và sống động là h́nh ảnh người lính bộ binh dùng chiếc nón sắt múc nước suối uống. Chiếc nón sắt gần như là vật bất ly thân đối với người lính trên chiến trường bởi v́ nó bảo vệ được phần nào cái “gáo” của ḿnh, là nồi nấu ăn trong vài giờ tạm dừng quân và đôi khi là cái cối giă cua đồng để có một nồi canh rau đay, mồng tơi cho bữa cơm trưa vội vă.

Chúng ta hăy đọc Đỗ Văn Phúc mô tả đường hành quân một ngày Mùa Xuân:

“Trên đất cỏ mọc xanh ŕ điểm những cụm hoa cúc vàng rải rác. Quân đi sâu vào ḷng đất khách đầy trắc trở. Con sông Chlong uốn ḿnh giữa hai hàng cây bằng lăng đang ra những nụ hoa màu tím nhạt. Phía bên kia sông, Chiến Đoàn 333 Biệt Động Quân của Đại Tá Nguyễn Văn Phúc cũng đang di chuyển. Tiếng người nói xen lẫn tiếng va chạm khô khan của vũ khí. Trời cao, nắng vàng ấm áp...”

Có thể tưởng tượng đoạn văn trên là một thoáng nh́n về Mùa Xuân trước khi người lính trận Đỗ Văn Phúc điều động đơn vị dưới quyền xông vào lửa đạn, đón nhận chết chóc không? Người lính có tâm hồn và lư tưởng phục vụ bao giờ cũng vẫn c̣n một trái tim biết rung động trước thiên nhiên và con người. Phải chăng những suy nghĩ của những người lính trận như Phúc cũng là một trong những yếu tố làm nên con người Việt Nam?

Một hồi ức khác của Bảo Định về những ngày đầu xuân 1973 sau khi Hiệp Định Paris được kư kết đă được dàn trải bằng chiều dài của cuộc hành quân được thực hiện để bảo vệ những vùng đất của Việt Nam Cộng Ḥa trong t́nh h́nh một cuộc ngưng bắn da beo, cũng là một bài đáng chú ư và cần đọc. Người Việt Nam thường có khuynh hướng nh́n văn kiện này một cách tổng quát mà ít khi chú ư đến t́nh h́nh quân sự địa phương. Trong khi đó, chính tại địa phương, người lính Việt Nam Cộng Ḥa phải căng ḿnh ra trước những thử thách cam go: vừa phải tôn trọng lệnh ngưng bắn, vừa phải tự vệ trước những hành động mờ ám của đối phương với những cuộc tấn công nhỏ để lấn đất giành dân. Cắm được một ngọn cờ vàng trong vùng đất thuộc quyền kiểm soát của ḿnh và giữ được quyền kiểm soát, người lính Việt Nam Cộng Ḥa trong rất nhiều trường hợp đă phải trả cái giá của xương máu.

Một tờ báo của lính như tờ KBC Hải Ngoại, lại là báo Xuân, tất không thiếu những hồi ức về một Mùa Xuân tang tóc: Tết Mậu Thân. Phila-To/KBC 3335 đă gọi sự kiện này bằng một tựa đề “Vui Xuân... quên nhiệm vụ”. Tác giả bài báo đă duyệt lại diễn tiến vụ Tổng Công Kích Tết Mậu Thân 1968, một sự kiện quân sự và chính trị lớn diễn ra, đánh dấu một trắc nghiệm trong kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”. Sự kiện này cũng là bài học khác cho thấy một thái độ không chính trực của người bạn đồng minh Hoa Kỳ. Nhưng dù bất ngờ, dù cái Tết năm ấy, tỷ lệ nghỉ phép của lính cao hơn mọi năm, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa vẫn đứng vững được. Cộng quân đă phải trả cái giá khá đắt trên chiến trường và nội bộ đảng Cộng Sản rạn nứt với những lời chỉ trích khiến Tướng Vơ Nguyên Giáp bị hạ tầng công tác một thời gian.

Những trang báo tiếp theo của Giai Phẩm Xuân KBC Hải Ngoại 2007 là những trang dàn trải được những suy nghĩ của người lính trước ngưỡng cửa của Mùa Xuân, rải rác ở những đồn biên pḥng, ở những đơn vị đang hành quân ǵn giữ an ninh cho hậu phương vui Tết. Khắp nơi trên lănh thổ miền Nam Việt Nam, trên những cánh đồng mênh mông lúa đă gặt xong, trong những vườn cây ăn trái xanh ŕ, trong những cánh rừng tràm, rừng đước, trong những khu núi rừng trùng điệp vùng cao nguyên và duyên hải hay trong những buôn làng vùng tiền sơn... có biết bao nhiêu người lính không thể có mặt trong đêm trừ tịch với gia đ́nh. Họ ở nơi xa ngoài tiền tuyến để bảo vệ cho dân chúng địa phương vui đón Xuân về. Từ bài “Trận chiến đêm Giao Thừa” (Mũ Nâu 11), “Có những Mùa Xuân” (Phan Công Tôn), “Hoa mai vườn cũ” (Hoàng Yến), “Mùa Xuân cuối” (Hồng Hoàng Hạ), “Luận cổ suy kim - Vua uống rượu phạt” (Lính Già Biên Pḥng), “Bên trời lưu lạc” (Ngọc Minh)... cho đến “Đóa hồng dại” (Phạm Quốc Bảo), “Trận đánh cộng đồng bún” (Lê Tường Vũ), “Chuyện dọc đường” (Phan Nhật Nam), “Cái búa” (Thảo Trường), “Trỗi dậy Mùa Xuân” (Vũ Ánh)... là một tổng hợp những chất liệu c̣n vương lại trong kư ức của những người lính nay đă già, đă trải qua kinh nghiệm, đă miệt mài chiến trận và đă hiểu rằng ḿnh không c̣n làm ǵ nhiều được cho quê hương vẫn c̣n tang thương. Nhưng trong cơi ḷng u uẩn của họ, vẫn c̣n niềm hy vọng: những kư ức được viết ra sẽ hữu ích cho thế hệ người Việt Nam mai sau.

Thế hệ trẻ người Việt Nam bây giờ đang có những đóng góp không ngờ cho Hiệp Chủng Quốc, nhưng cũng không ít những trường hợp có những ngộ nhận về thế hệ cha anh của họ. Có những người trẻ không hề thắc mắc xem cha hay mẹ ḿnh như thế nào trong thời trai trẻ hay là thời trẻ của họ cũng chỉ là h́nh ảnh những ông già, bà cả lui tới trên con đường Bolsa với tấc ḷng nặng trĩu h́nh ảnh u buồn của một thời đă qua. Không, Giai Phẩm Xuân KBC Hải Ngoại cũng như những số báo hàng tháng đă cho thấy thời trai trẻ của những người HO trên dưới 60 không phải như thế. Đă có một thời, những người Việt Nam già nua ở vườn Cam này cũng như ở khắp các thành phố trên liên bang Hoa Kỳ, ở Âu Châu, ở Úc... là những chàng trai, không có may mắn như những chàng trai gốc Việt bây giờ được học hành tại những trường đại học tốt nhất nước Mỹ, ra trường kiếm được những công việc lương cao và trưởng thành trong một xă hội văn minh, nhân quyền được tôn trọng, những người trẻ Việt Nam của thập niên 50, 60, 70 phải sống trên một đất nước đầy khói lửa chiến tranh và hận thù. Họ không có cơ hội học hành đến nơi đến chốn trước khi cầm súng ra mặt trận. Những kư ức của họ được viết ra không phải là những lời răn dạy khô khốc, không phải là những bài bản để nói đến cái tôi vô ích trong quá khứ. Những người lính già chúng tôi không hề như thế.

Tùy theo cách tŕnh bày của nhiều tác giả, người đọc có thể h́nh dung ra những lời nhắn chủ thế hệ thứ hai rằng mọi hy sinh của chúng tôi chỉ để hy vọng lớp trẻ thuộc thế hệ thứ hai nên người với đầy đủ sự ngay thẳng, chính trực và một trái tim c̣n biết rung động trong mọi hoàn cảnh khó khăn. “Ḍng xoáy” (Nguyên Huy), “Có những Mùa Xuân” (Dư Thị Diễm Buồn), “Dưới đáy mắt kẻ vô thần” (Nguyễn Xuân Nghĩa), “Sự liên tục lịch sử” (Phạm Cao Dương), “Milton Friedman” (Ngô Nhân Dụng), “Tiến tŕnh dân chủ hóa” (Vơ Long Triều)... là những bài có thể chuyển tải được những ước mơ chưa tṛn của “thế hệ thứ nhất” người Việt tị nạn ở hải ngoại, cũng như người Việt ở trong nước. Ước mơ bàng bạc trải dài trên những trang giấy: một Việt Nam không Cộng Sản sau chiến tranh.

Gần như một cái duyên, trong phần Tổng Kết Trận Tổng Công Kích Tết Mậu Thân, hai tác giả Vơ Trung Tín và Nguyễn Hữu Viên đă kể lại cuộc hành quân Lam Sơn 207A Pagasus thực hiện đầu Tháng Tư năm 1968, đây cũng là một trận đánh mà tôi có mặt với tư cách một phóng viên mặt trận. Cuộc hành quân diễn ra ngoài căn cứ Khe Sanh là cơ hội để lần đầu tiên trong đời, tôi có dịp di chuyển trên quốc lộ 9 từ một đồn binh cũ do quân đội Pháp xây dựng, tới làng Khe Sanh, trại làng Vei cũ, trại làng Vei mới, Hương Hóa, rồi ngược trở lại Cam Lộ. Những lần dừng quân gần quốc lộ 9 vào mỗi buổi chiều, nh́n núi rừng trùng điệp, giữa màu xanh đang chuyển dần sang màu tím, ḷng thấy mềm nhũn. Cuộc chiến ngày càng lan rộng, tương lai miền Nam Việt Nam sẽ về đâu, trong khi sự bất ổn tại địa phương lộ diện dần dần qua những tờ báo từ Sài G̣n gởi muộn cho chúng tôi. Hiếm có cuộc hành quân nào mà tôi đă phải nằm lại mặt trận tới 12 ngày để quan sát, tiếp xúc và nh́n thấy tận mắt cái sống mong nanh của người dân vùng hỏa tuyến trong chiến tranh. Không có trận đụng độ nào lớn trong suốt 12 ngày này, chỉ chạm súng ở mức từ nhẹ đến trung b́nh. Và nếu nh́n chung, người ta có cảm tưởng địch quân chỉ nghi binh và t́m cách khiêu dụ ta tập trung vào vùng thung lũng Khe Sanh. Một tiền Điện Biên Phủ thứ hai chăng? Tôi không biết, nhưng khoảng cuối Tháng Tư 1968, tôi trở lại Sài G̣n và t́m đọc tuần báo Newsweek, thấy một bài báo trích thuật nhận định của Peter Arnett đang làm cho hăng thông tấn AP lúc tôi gặp ông ta tại Cam Lộ: Khe Sanh chỉ là “diện”, c̣n điểm có thể là Quảng Trị, Huế, Thừa Thiên, Đà Nẵng và Quảng Nam?

...

Tôi vừa lược điểm một giai phẩm xuân của lính: KBC Hải Ngoại Xuân Đinh Hợi 2007. Phần nội dung cũng như phần tŕnh bày của giai phẩm, dù có cả ưu điểm lẫn khuyết điểm, nó cũng vẫn là bức tranh hoành tráng với những nét đậm nhạt của những con người mang nặng những kỷ niệm thời chiến tranh, những kỷ niệm sẽ chẳng bao giờ nhạt phai trong suốt những năm tháng của cuộc đời c̣n lại của những người lính cộng ḥa. Xin giới thiêu Giai Phẩm KBC Hải Ngoại Xuân Đinh Hợi với tất cả những bạn đọc gốc lính hay không gốc lính với hy vọng đem lại cho quư bạn chút ấm ḷng trong Mùa Xuân vẫn c̣n tha hương này.