Michael Do

Quê Hương và Hoài Vọng

Bút Kư & Tham Luận

 
 
 
 
 

Trang Chủ

Truyện Dịch

Viết Về Lính

Quê Hương

Chuyện Tù

Nhận Diện Kẻ Thù

Chuyện Người

Các Bản Tin

Nhận Xét

Hội Luận

Tác Phẩm

Tiểu Sử

Gia Đ́nh

Liên Kết

Gửi Thư

Trang Anh Ngữ

 

Lời Tựa của

Hoàng Minh Hoà

 

Một vài cảm nghĩ sau khi đọc
Quê Hương và Hoài Vọng

 

 
 
Người ta nói “Văn tức là Người”
Điều này tôi nghiệm thấy quả thực đúng với trường hợp cuốn sách Quê Hương và Hoài Vọng và tác giả Đỗ Văn Phúc.
Sau khi nhận sách Quê Hương và Hoài Vọng, tôi đă phúc đáp báo nhận sách và cám ơn tác giả; đồng thời tin anh hay, tôi hoàn toàn xúc động khi đọc sách anh.
Thú thật, khi cầm Quê Hương và Hoài Vọng trong tay, tôi không đọc một mạch từ đầu chí cuối mà chỉ lướt qua mục lục, lần đọc trước hết bút kư của anh về chuỗi ngày cải tạo để cùng nhau cảm thông những nỗi niềm cay đắng vẫn c̣n đang âm ỷ trong thâm tâm. Từ độ qua Mỹ đến nay, tôi vẫn t́m đọc những hồi kư của các tù binh Việt Mỹ, nạn nhân của chế độ giam cầm, đày đọa của Cộng sản sau cuộc chiến vừa qua; thêm vào đó, tôi cũng t́m đọc kinh nghiệm thời gian lao lư của các tù nhân chính trị trong các chế độ Cộng sản ở các nước để so sánh với trường hợp của chính tôi và anh em, ngơ hầu có một nhận định về giá trị của sự chịu đựng của người và của ḿnh để hiểu người, hiểu ḿnh hơn. Có th́ giờ thong thả, tôi mới đọc kỹ từng trang, suy gẫm từng đoạn để hiểu hơn về tác giả và tác phẩm.
Nội dung cuốn sách đă phản ảnh trung thực và rơ nét chân dung của một chiến sĩ quốc gia và hành tŕnh của một người qua bao biến thiên và thăng trầm của lịch sử đất nước.
Khởi đi từ hai chữ Quốc Gia, tôi liên tưởng đến hai câu thơ bất hũ của bà Huyện Thanh Quan:
Nhớ nước đau ḷng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Qua lăng kính của ư niệm Quốc Gia này, tôi nh́n vào cuốn Quê Hương Và Hoài Vọng
 
Nhớ nước...
 
Ngay trong bài viết mở đầu những trang trân trọng của cuốn sách “Dưới Bóng Quân Kỳ”, tác giả đă đề cao vị trí, tài nguyên của đất nước, tinh thần cần cù và nền văn hoá cổ truyền của dân tộc, và đặc biệt hơn cả là h́nh ảnh sáng ngời của người lính VIÊT NAM.
Là một trí thức tốt nghiệp từ Đại học Chiến tranh Chính trị của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, Đại học Vạn Hạnh và là một kỹ thuật gia được đào tạo từ Đại học Texas ở Austin và Đại học Kỹ Thuật Quốc Gia ở Fort Collins, Colorado, tác giả Đỗ Văn Phúc đă làm việc với một tinh thần logic chặt chẽ. Chẳng hạn trong bài “Nhân Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, Điểm Lại Vài Nghi Vấn Về Nguồn Gốc Dân Tộc Việt”, tác giả cho rằng dân tộc ta từ khi lập quốc đến nay đă trải qua hơn bốn ngh́n năm lịch sử; song tính đến năm 43 trước Công nguyên là năm hai bà Trưng khởi nghĩa th́ thời đại Hùng Vương gồm 18 đời vua “cứ tính rộng ra, mỗi ông vua trị v́ năm mươi năm, th́ mười tám ông vua Hùng chỉ có thể làm vua được nhiều nhất là chín trăm năm thôi. Vậy là có một khoảng trống khó giải thích được.”
Cũng trong tinh thần trên, mặc dù giống ṇi ta có một nền văn hoá cổ truyền độc đáo, tác giả cũng đưa ra những nhận xét chính xác qua bài “Một Vấn Đề Nhỏ Trong Văn Hoá: Xây Dựng Khuôn Mẫu Con Người”. Tác giả cho rằng: “H́nh như chỉ trong hoàn cảnh thật nguy nan, dân ta mới thực sự đoàn kết; quên cái riêng mà lo cho đại sự, bỏ qua tị hiềm cá nhân, địa phương, tôn giáo mà nghĩ đến tổ quốc. C̣n ngoài ra, khi có chút an sinh, những luồng tư tưởng cá nhân lại nẩy mầm sinh ra tính tự kiêu, sinh ra những tranh chấp nhỏ nhặt...”
Theo tác giả, điều này phát sinh do ảnh hưởng những phần tiêu cực trong văn hoá, để đi đến kết luận: “Bởi v́ không phải văn hoá của ta hoàn toàn hay đẹp đâu.” Kèm đó, tác giả đă nêu ra những thí dụ về phần tiêu cực trong văn hoá. Trong một đoạn dài, tác giả đă phản bác những hành vi ngớ ngẩn, dốt nát, bịp bợm của những thành phần hạ đẳng trong xă hội do cơ may mà thành đạt, như những nhân vật Trạng Lợn, Trạng Ếch, thằng Cuội trong truyện cổ dân gian; mà những hành vi của chúng được hiểu lầm thành ra có những ư nghĩa cao siêu. Lại c̣n thói quen nói khoác một bước đến trời, nói mà không biết ngượng, không biết đối tượng nghe là ai. Thói quen này phát triển mạnh lên và thể hiện một cách rơ rệt nơi những tầng lớp cán bộ Cộng sản, đến nỗi đồng bào ta phải đặt ra thành ngữ “nói láo như Vẹm
Bên cạnh những phần tiêu cực mà theo tác giả, cần xoá bỏ; th́ những mặt tích cực của văn hoá Việt Nam đă góp phần hun đúc nên những tài hoa ưu tú trong các lănh vực văn chương, nghệ thuật, và nhất là những anh hùng hào kiệt, mà theo Nguyễn Trăi: “thời nào cũng có” (B́nh Ngô Đại Cáo)
Trong những bài nói về quân đội, tác giả có một sự trân trọng đúng mức và luôn luôn vinh danh những người lính cộng hoà. Tiếp nối tinh thần anh hùng của tiền nhân như Lư Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trăi, Quang Trung, Quân lực Việt Nam Cộng Hoà ngày nay không chỉ anh dũng trong khi chiến đấu với vũ khí trong tay mà c̣n tỏ ra bất khuất can trường khi đà thất thế. Những Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn và hàng trăm chiến sĩ vô danh khác đă t́m cho ḿnh cái chết vinh quang, bảo toàn khí tiết không để lọt vào tay giặc.
 
Đau ḷng con quốc quốc...
 
Vết thương sâu sắc, nhức nhối nhất qua thời gian hai mươi năm qua c̣n rỉ máu trong tâm can của người chiến sĩ quốc gia là để Cộng sản thôn tính toàn bộ đất nước mến yêu.
Tác giả cuốn Quê Hương và Hoài Vọng hiểu rất cặn kẻ chế độ bạo ngược, phi nhân của cộng sản từ căn bản lư thuyết cho đến mọi thủ đoạn gian manh trong thực hành. Qua bài nghiên cứu “Chủ Nghĩa Cộng Sản ABC”, người đọc sẽ có một cái nh́n rơ rệt về những vấn đề liên quan đến chế độ Cộng sản, và dễ dàng nh́n thấy đó là một bước đi sai lầm của lịch sử nhân loại.  Theo Marx, chỉ có giai cấp công nhân là giác ngộ cách mạng; như thế, lẽ ra cách mạng phải xảy ra ở Anh hay Mỹ là những nước tư bản cực thịnh mà theo Marx là chín mùi để làm cách mạng, có một lực lượng công nhân lớn mạnh. Trong khi ở Nga vào trước 1917, c̣n sống trong t́nh trạng quân chủ chuyên chế, nông nghiệp lạc hậu, không phải là nơi có điều kiện nổ ra cách mạng. Ấy thế mà Lenin vẫn cứ làm cách mạng tháng mười. Tác giả viết:
Ngoài Nga sô, tại các nước Trung Hoa, Việt Nam, và các nuớc Đông Âu không hề có các cuộc cách mạng vô sản đúng nghĩa mà chỉ là sự lợi dụng các phong trào đấu tranh giành độc lập (Việt Nam, Trung Hoa) hoặc chống phát xít Đức (Đông Âu) để áp đặt chủ nghĩa Cộng sản.
Hệ quả, là ngày nay chủ nghĩa cộng sản đi vào bế tắc và đổ vỡ tan tành.
Một điều nghịch lư là ở Việt nam, các lănh tụ Cộng sản đă dùng thủ đoạn lừa bịp như đặt ra các phong trào thi đua, đề cao chủ nghĩa anh hùng để làm cho các thành phần lao động trở thành thân tàn ma dại trên các nông trường, công trường để cho những tầng lớp quan lại Cộng sản mới tha hồ hưởng thụ trên chóp bu.
Việt Cộng thường khoe: “ở Miền Bắc đi đâu cũng gặp anh hùng”; th́ dân miền Nam mỉa mai ngay: “đi đâu cũng gặp thằng khùng, thằng điên.”
Đồng bào ta ở hải ngoại chưa hề có một ư niệm nào về tầng lớp cán bộ Cộng sản xuất thân từ nông dân quê muà, thất học, ăn nói ngọng ngịu, có thể lăn ra cười khi đọc những mẫu chuyện có thực về hành vi ngớ ngẩn của chúng. Nhưng anh em tù nhân cải tạo th́ cười không nổi dù là với một nụ cười héo hắt, v́ đă quá quen thuộc với những cảnh đời này. Chẳng hạn, trong truyện Tết Trong Tù, tác giả thuật lại lời một cán bộ Cộng sản thông báo cho anh em tù cải tạo về việc ăn tết như sau: “Tết đến, rờ nượng khoan hồng, rân đạo và sự quan tâm của nănh đạo, các anh sẽ được ăn đầy đủ. Trại cho mổ hai con ḅ, ba con nợn; có bánh đa, một gói thuốc ná Xây rựng, kẹo nạc, rưa cải...”
Tác giả c̣n mỉa mai chua cay cảnh khốn cùng của xă hội ưu việt Xă hội chủ nghĩa miền Bắc qua câu chuyện về Nguyễn Tuân. Tác giả viết: “Nguyễn Tuân, trong cuốn 'Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi', kể lể chi tiết về khẩu phần ăn ngày tết của Hà Nội dành cho tù binh Hoa Kỳ gồm cái bánh chưng, vài miếng thịt. Ông đă dành nguyên một phần mười cuốn sách để ca ngợi ḷng nhân đạo của bọn Cộng sản khi cho tù ăn như thế. Tội nghiệp cho cái xă hội bần cùng, miếng cơm không ra ǵ cũng trở thành một thứ ân sủng quư báu và được nêu ra như một hành vi cao cả.”
 
Thương nhà...
 
Bên cạnh cái đau chung của toàn dân tộc, tác giả Đỗ Văn Phúc c̣n mang nặng nỗi xót xa của người con có cha bị Việt Minh (Cộng Sản) đày ải và giết hại. Tác giả thuật trong bài Trại Cải Tạo A-20 Xuân Phước: “Thân phụ tôi bị Việt Minh bắt đi năm 1948 khi tôi vừa lên hai. Người bị đưa ra Thanh Hoá, giam ở trại Lư Bá Sơ cho đến năm 1954 th́ được thả theo quy định của Hiệp dịnh Geneve. Nhưng người không về được đến nhà. Cộng sản đă tổ chức đón đường thủ tiêu ngay tại Vinh những ngựi quốc gia mà chúng e sợ về sau này.”
Đỗ Văn Phúc được nuôi dưỡng nhờ ân đức của mẹ hiền. Tác giả đă dành những trang vô cùng cảm động về cuộc đời hy sinh của mẹ cho người con trai. Bà là nạn nhân của chế độ gia đ́nh phong kiến mặc dù được sinh trưởng trong một gia đ́nh quan lại song vốn liêm khiết nên chịu cảnh thanh bần. Bà làm dâu một gia đ́nh nhà quan nhưng gặp phải một bà mẹ chồng khắc nghiệt. Bà lẳng lặng tuân phục lời chỉ dạy của mẹ chồng và âm thầm chịu đựng tháng năm dài cay đắng của một nàng dâu mà thân phận không khá hơn kẻ tôi đ̣i. Khổ hơn nữa, chồng lại sống một cuộc đời phóng khoáng, ham vui bè bạn, ít khi để ư đến vợ con. Kịp đến khi nghe chồng chết trên đường ở tù ra, bà đă lặn lội ra tận Thanh Hoá t́m xác chồng nhưng vô hiệu.
Bà đưa con lui về sống ở vùng Gio Linh thuộc tỉnh Quảng Trị, là một huyện lỵ nhỏ bé vùng giới tuyến phân chia Nam Bắc. Đây là một địa phương hứng chịu nhiều tai ương của chiến tranh kể từ khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ. Ai có đọc qua cuốn sách “Dăy Phố Buồn Hiu” (A Street Without Joy) của nhà báo kiêm nhà văn Pháp Bernard Fall mới thấy tất cả thảm họa đă giáng xuống mảnh đất đau thương này như thế nào.
Vật lộn với cuộc sống nơi xứ sở mà mùa nắng th́ bị ảnh hưởng của những cơn gió lào khô khốc như hơi lửa thổi tới; mùa mưa th́ chịu cảnh lũ lụt của thác nước từ mạn Trường Sơn đổ về; ngơ hầu nuôi con cho bằng chúng, bằng bạn, ra đường không thua kém ai đă khiến cho người mẹ hiền má hồng mỗi tiết mỗi phôi pha. Sự kiện này làm cho tác giả cảm thâm khoảng rộng bao la của t́nh mẫu tử. Tác giả viết trong bài “Về Một Người Mẹ”:
Tôi cứ nhớ hoài câu ca dao 'mồ côi cha ăn cơm với cá, mồ côi mẹ liếm lá đầu đường'. Những lời mẹ ru từ lúc c̣n thơ với âm sắc nồng nàn của miền Quảng Trị nghe buồn làm sao; như thấm vào trong tâm khảm tôi và trở thành mối dây thiêng liêng kết tụ nên t́nh mẫu tử bao la.”
 
Mỏi miệng cái gia gia ...
 
Trong Quê Hương và Hoài Vọng, Đỗ Văn Phúc đă viết nhiều trang để vinh danh mẹ hiền, và qua đó đề cao Mẹ Việt Nam. Chẳng hạn trong bài “Mẹ, Biểu Tượng Của Quê Hương
Hăy cám ơn Thượng Đế đă cho ta trái đất này, đầy hoa thơm cỏ lạ, đầy tiếng chim ca. Nhưng trước hết, hăy cám ơn về người Mẹ và những t́nh cảm bao la, âu yếm mà ta không thể t́m được nơi đâu khác.”
Bên cạnh những ḍng hết sức cảm động khác để “tưởng nhớ vong linh Mẹ”, Đỗ Văn Phúc đă không quên đề cao tấm ḷng chung thủy của người vợ hiền vẫn một ḷng trọn vẹn nghĩa t́nh chờ đợi người chồng bị tù đày trở về, dù chẳng có chút hy vọng nào về ngày về cả.
Nói chung, theo tác giả, dù ở giai cấp nào, người phụ nữ Việt Nam vẫn tượng trưng cho những đặc tính trung hậu, đảm đang và tiết nghĩa. Người vợ tù nhân cải tạo một thời đă chứng tỏ ḷng trung trinh, nghị lực vượt thắng mọi gian khổ và cám dỗ, để xứng đáng là con cháu các bà Trưng, bà Triệu.
Một khi đă khẳng định niềm tin này, ta không lấy làm lạ khi nh́n vào văn học, tác giả Đỗ Văn Phúc đă tán tụng sự chung thủy nơi người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm và chê trách nàng kiều trong Truyện Kiều thiếu đặc tính quư giá này của người phụ nữ Việt Nam. Đặt qua một bên giá trị nghệ thuật của cả hai đại tác phẩm mà được đánh giá như những hào quang sáng chói trong văn học sử Việt Nam, tác giả đă viết về Chinh Phụ Ngâm như sau:
Đây là một tác phẩm ưu tú được phổ biến sâu rộng từ hai trăm năm mươi năm qua, phản ánh tâm tư thống thiết của người vợ nơi hậu phương, hàng ngày ngóng trông người chồng đang chinh chiến nơi tuyến đầu binh lửa. Nó phản ảnh nguyện vọng sâu kín của dân tộc về một nền hoà b́nh, hạnh phúc; nhưng cũng vừa thể hiện niềm tự hào, tin yêu và hy vọng vào tiền đồ của Tổ quốc, tin tưởng vào chính nghĩa, cổ súy cho đức hạnh của người phụ nữ và tính anh hùng của bậc nam nhi.”
Đối với nàng Kiều, Đỗ Văn Phúc đă lên án một cách chua chát: “Nàng kiều của Cụ (Nguyễn Du) tài sắc vẹn toàn mà phải gánh lấy cái tai ách mười lăm năm đoạn trường th́ cũng chưa chắc v́ 'Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen' đâu. Chỉ trách ông trời già oái oăm ban cho thị cái tính nết lẵng lơ, để gắn liền với thân phận bèo dạt hoa trôi của ḿnh như bất cứ phụ nữ đẹp nào trên thế gian.”
Tác giả viết tiếp để chứng minh: “Xác chồng c̣n nóng hổi, chết đứng ngoài kia với hàng trăm mũi tên găm như lông nhím, Kiều đă đem tấm thân cho kẻ thù dày ṿ. tại sao nàng không t́m ngay cái chết để đền đáp t́nh yêu mà kẻ anh hùng đă v́ ḿnh mà bỏ mạng? Hay ít ra cũng biết cự tuyệt cho phải đạo? Nước sông Tiền Đường chỉ có thể rửa được vết nhơ trên thân thể; chứ khó xoá nổi sự nhày nhụa của tâm hồn nàng.
 
Dừng chân đứng lại ...
 
Quê Hương và Hoài Vọng là cuốn sưu tập những bài viết của tác giả Đỗ Văn Phúc từ trước đến nay. Ngoài những bài để phản ảnh nhân sinh quan, một số bài khác coi như sự tổng kết hành tŕnh vào đời của tác giả, một chiến sĩ quốc gia. Thiếu thời, tác giả đă bị ảnh hưởng bởi cái đẹp, cái hào hùng của người trai đất Việt với chí nam nhi, nợ tang bồng.
Tôi yêu tha thiết h́nh ảnh người trai lính và quan niệm : Thanh niên thời chiến chỉ đẹp trong bộ chinh y... H́nh ảnh đẹp nhất là người thủ khoa Vơ bị đang giương cung bắn đi bốn phương trời, tượng trưng chí tang bồng hồ thỉ.”
Xuất thân khoá đầu tiên của trường Đại học Chiến tranh Chính trị Đà Lạt, ra trường nhằm lúc chiến dịch Chân Trời Mới đang được phát động, tác giả là một trong ba mươi chín tân sĩ quan được phân phối về Sư đoàn 5 Bộ binh lănh chức vụ đại đội phó của ba mươi chín đại đội tác chiến của Sư đoàn.  Tác giả lại là một trong 4 sĩ quan đầu tiên xin xuất ngành để nắm chức vụ đại đội trưởng chiến đấu.
Bài “Chiến Thắng Đầu Xuân 71: Phải Cắm Cờ Việt Nam Trên Làng Thpong Vietnam Trước Lúc Hừng Sáng” là một phóng sự chiến trường hấp dẫn và sôi sục về mặt trận Snuol mà tác giả đă tham dự. Đây là cuộc hành quân Toàn Thắng 71 NB do Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 tổ chức đánh thọc sâu vào lănh thổ Kampuchea trên địa bàn tỉnh Kratie nhằm phá nốt căn cứ hậu cần của cái gọi là Mặt trận Giải phóng Miền Nam, con đẻ của ngụy quyền Hà Nội nhằm xâm lược và xích hoá miền Nam.
Kế đến, qua giai đoạn suy vong của đất nước, tác giả đă bị bắt đi cải tạo tại Trại Cải Tạo A-20, Xuân Phước. Tại đây, anh đă nêu cao sự can trường của người chiến sĩ mà “uy vũ bất năng khuất.”
Từ bút kư Trại Cải Tạo Xuân Phưóc A-20, tôi đă chiêm nghiệm thêm những đồng cảm sau:
Chín năm tṛn dưới chế độ ngục tù Cộng sản đă khắc đậm trong tâm trí tôi những vết hằn sâu thẳm; bởi v́ hồi ấy, đă có lúc cơ thể tôi quá kiệt quệ, lại chứng kiến những cái chết tức tưởi của các bạn Trung tá Nguyễn Văn Năm, Hà Sĩ Phong mà tất cả anh em đều biết họ khoẻ hơn tôi nhiều. Tôi đâm ra chán nản và nghĩ quẫn rằng chết thế mà lại hơn sống để khỏi kéo dài sự khổ nhục chẳng biết bao giờ mới thôi. Tuy nhiên, khi thấy anh em chiến hữu trốn trại hoặc chống đối bị chúng tra tấn, biệt giam, cùm kẹp làm cho thân tàn ma dại, tôi cảm thấy xót xa cùng cực rồi suy ra rằng, những anh em ấy c̣n đau khổ hơn tôi bội phần, tôi t́m thấy lư lẽ để tự trấn tỉnh. Từ niềm cảm thông ấy, tôi đă dành một niềm khâm phục đối với họ, những người vượt thắng cái chết mà Cộng sản muốn giáng xuống đầu họ, một mặt để trừng trị, mặt khác để thị oai cùng toàn thể tù nhân trong trại.
Niềm khâm phục ấy hôm nay được khơi dậy khi đọc bút kư “Trại Cải Tạo A-20 Xuân Phước.” Tác giả viết:
Một buổi chiều trước giờ điểm danh vào pḥng giam, chúng lùa tất cả tù ra khỏi pḥng cho bọn trật tự xục xạo các túi tư trang gom hết lon nhôm, nồi nhôm, inox. Tôi giả đau không ra, nằm ôm chiếc lon guigoz đựng nước ấm nói là để đắp vết nhức trên vai. Tên cán bộ nhất quyết đuổi tôi ra và cho tên trật tự giằng chiếc lon. Tôi phản đối kịch liệt và ném lon xuống đất, dùng chân dẫm nát với ḷng căm hận, rồi ném qua hàng rào. Tôi nói thẳng vào mặt tên cán bộ Luật: 'Các anh đă cướp bóc tất cả tài sản chúng tôi, chỉ c̣n thứ vật dụng sinh hoạt nhỏ bé này cũng không chừa. Tôi không xài được, th́ cũng không để các anh xài.' Tất cả anh em tù đều reo lên cổ vơ: 'Đồ ăn cướp, đồ ăn cướp.' Thế là chúng đưa tôi vào xà lim, sau khi lột sạch áo quần trên người, cùm hai chân cứng ngắt vào thanh sắt 12 li.
Trong thời gian bị cùm giam, Đỗ Văn Phúc đă làm hai câu thơ nhặt cây đinh khắc lên vách nhà giam:
 
 Đời có gian lao mới rạng danh hào kiệt,
Tù không đày đọa sao rơ mặt anh hùng.
 
Về điểm này, tôi hoàn toàn đồng ư với tác giả. Tôi xin mượn lời của Giáo sư Terrence des Pres cùng một quan điểm khi ông viết về Aleksandr Solzhenitzyn, một nhà văn, một trí thức, nạn nhân của chế độ Cộng sản Nga sô để nói lên sự biểu đồng t́nh cùng anh. Giáo sư Terrence des Pres có chân trong hội thân hữu Havard, trưởng bộ môn Anh tại Đại học Colgate. trong tiểu luận “The Heroism of Survival” (Chủ nghĩa anh hùng trong sự sống sót), rút từ nhan đề “The Survivor” (Kẻ Sống Sót, do Oxford University Press xuất bản) để đăng vào tuyển tập “Aleksandr Solzhenitsyn”, nguyên văn như sau:
The survivor is a hero in that by staying alive he becomes an effective agent in the fight against extremity. But just as much, the survivor is a hero because as soon as he chooses not only to live, but to live humanly. he takes upon himself the burden of an extraordinary entreprise, an act requiring enormous will, courage, capacity to bear pain and an unshakable faith in the value of life and huam dedency.” (p.46)
Tạm dịch: Kẻ sống sót là một người anh hùng ở chỗ khi c̣n sống, họ đă trở thành một tác nhân thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống t́nh trạng cực đoan. Song chính v́ thế, kẻ sống sót quả là người anh hùng bởi v́, ngay khi chọn cho ḿnh không những sự sống, nhưng sống cho ra con người, họ đă chịu nhận lấy cho ḿnh cả cái gánh nặng của một sự nghiệp phi thường, một hành động đ̣i hỏi một ư chí, một quả cảm vĩ đại, cái khả năng chịu đựng sự đau đớn và một niềm tin không ǵ lay chuyển nổi nơi giá trị của sự sống và lẽ phải chăng của người đời
Đỗ Văn Phúc viết tiếp:
Hôm sau, chúng đưa tôi ra làm việc lần lượt với tên trực trại, rồi chuyển qua an ninh, sau đó gặp tên trưởng trại Lê Đồng Vũ. Đối chọi với ba tên này, tôi vẫn khăng khăng tuyên bố việc chúng giam giữ chúng tôi là phi pháp, v́ chúng tôi chẳng phải là tù binh, chẳng phải tù phản động; chúng tôi là người miền Nam, thi hành luật pháp miền Nam, chiến đấu chống Cộng sản là có chính nghĩa. Tên Vũ gầm gừ: 'Có chính nghĩa! tao cho mày nằm xà lim cho đến rỉ c̣ng.' Trước sự chứng kiến của một số anh em tù đang làm cỏ ngoài sân, tôi đă nhổ nước bọt trước mặt nó. Cán bộ an ninh thấy tôi hung hăng quá, bèn kéo tôi đi và nói nhỏ: 'Thôi, bớt bớt, sau này ra làm việc với tôi.'“
Một lần nữa, tôi lại hoàn toàn đồng ư với tác giả về quan niệm vô tội của tất cả các thành phần bị Cộng sản giam cầm trong các trại cải tạo sau 30-4-1975. Cộng sản đă vi phạm trắng trợn những cam kết của chúng trong hiệp định Paris kết thúc chiến tranh là không trả thù, là thả hết tù nhân bị giam giữ do chiến tranh.
Để biện minh cho quan niệm vô tội nơi các chiến sĩ quốc gia bị cộng sản bắt cầm tù, tôi lại xin trích dẫn ư kiến của Terrence des Pres, v́ tôi thấy luận thuyết của ông đă được cấu trúc rất có hệ thống và hoàn toàn hợp lư.
Về vấn đề vô tội, ông viết nguyên văn như sau:
Innocence is a definitive condition of the human survivor. Innocence within a landscape of total violence has been the condition of millions of people in our century and to withstand this condition without betraying his innocence is the survivor's particula job.” (p.51)
Tạm dịch: Sự vô tội là t́nh trạng hiển nhiên của người sống sót. Sự vô tội trong khung cảnh một chế độ bạo lực toàn diện chính là t́nh cảnh của hàng triệu người trong thế kỷ chúng ta đang sống và để đương đầu với t́nh cảnh này mà không phản bội tính cách vô tội của ḿnh, đo chính là hành động đặc biệt của kẻ sống sót.
Tóm lại, qua thiên bút kư “Trại Cải tạo A-20, Xuân Phước,” tôi đă chứng kiến một hành động chống đối dũng cảm trong một chế độ tù đày bất nhân, một quan niệm đúng đắn về tính cách anh hùng của những hành động ấy cùng những niềm tin mănh liệt nơi chính nghĩa của ḿnh, t́nh trạng vô tội v́ là nạn nhân của một sự tráo trở, vi phạm lời cam kết quốc tế, thể hiện dưới ng̣i bút linh động và hấp dẫn của tác giả Đỗ Văn Phúc là một điểm son của cuốn Quê Hương và Hoài Vọng. Đôi điều tâm đắc, tôi đă viện dẫn những biện giải của nhà luận thuyết có uy tín v́ tôi tin rằng nó có giá trị thuyết phục mạnh mẻ.
Ra khỏi tù, vài năm sau theo chương tŕnh HO đến bến bờ tự do để làm lại cuộc đời, tác giả lao ngay vào hoạt động phục vụ anh em đồng cảnh ngộ trên đường xây dựng cuộc sống mới với tràn đầy nhiệt t́nh và tâm huyết.
Trong môi trường sống mới, tác giả luôn phải đối diện với những vấn đề bức xúc như sự tham gia vào sinh hoạt chính trị của Hoa Kỳ (Người Mỹ Gốc Việt và Sinh Hoạt Chính Trị), nhu cầu vượt thắng sự thờ ơ dững dưng của những thành phần tiêu cực, nhu cầu trấn áp những tên “đầu cơ chính trị lác đác xuất hiện” hay một số hoạt đầu “bắt đầu giở giọng đề ra giải pháp hoà hợp với Cộng sản
 
Một mảnh t́nh riêng ...
 
Qua hơn ba trăm trang của cuốn sách, người đọc đă chứng kiến một văn phong vững vàng của một chiến sĩ vừa là một nhà trí thức quốc gia có lập trường kiên định.
Các vấn đề đặt ra đă được tác giả tŕnh bày với những lư luận sắc bén. Một ví dụ:
“Có người hỏi tôi rằng: 'Ngày trước ở miền Bắc, Cộng sản rất liêm chính, vào Nam mới học thói tham nhũng của chính quyền ta?' Câu hỏi hay đấy! Nhưng thử hỏi lại rằng: 'Giữa đám ăn mày với nhau th́ lấy ǵ mà tham nhũng? Xă hội miền Nam ta giàu quá, nên các ông to thường ăn của đút bạc trăm ngàn, bạc triệu. - miền Bắc, ăn không có đdược bữa cơm, mặc không có chiếc áo lành, th́ thử hỏi tên cán bộ muốn ṿi điều ǵ?'“
Quan trọng hơn nữa là việc tác giả đă khẳng định lại ranh giới ư thức hệ trong khung cảnh một nước Việt Nam  bị xích hoá.
“Ranh giới địa lư đă xoá mờ, nhưng ranh giới ư thức hệ, ranh giới của văn hoá, ranh giới của t́nh người, của sự phát triển vẫn c̣n kéo dài cho đến nhiều thập niên về sau.”
Với hai lối sống Nam bắc hoàn toàn khác biệt:  “Hai mươi năm với hai lối sống khác biệt đă tạo ra một khoảng cách rất xa dễ ǵ rút ngắn trong một vài thập niên sau khi tự do, dân chủ văn hồi trên quê hương.”
Dừng chân để nhận định quảng đường vừa trải qua, đồng thời để chuẩn bị cho hành tŕnh kế tiếp. Những cột mốc của đoạn đường ngày mai và thời gian nối tiếp sau đó sẽ là đối tượng của những công tŕnh và tác phẩm mà chúng ta có thể chờ đợi nơi tác giả Đỗ Văn Phúc.
Mong lắm thay!
 
Cựu Trung Tá Hoàng Minh Hoà, M.A.
Nguyên Văn Hoá Vụ Trưởng
Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Đà Lạt
(Chủ tịch hội Cao Niên VN tại Portland, Oregon)
 
 
Chú thích: Lời tựa trên viết cho bản in lần thứ nhất năm 1995. Trong bản in lần này có thêm rất nhiều bài mới và loại bỏ vài bài cũ cho phù hợp với t́nh h́nh mới.