Michael Do

Chuyện Trong Tù

 
 
 
 
 

Trang Chủ

Truyện Dịch

Viết Về Lính

Quê Hương

Chuyện Tù

Nhận Diện Kẻ Thù

Chuyện Người

Các Bản Tin

Nhận Xét

Hội Luận

Tác Phẩm

Tiểu Sử

Gia Đ́nh

Liên Kết

Gửi Thư

Trang Anh Ngữ

 

 

Hồi Kư: CUỐI TẦNG ĐỊA NGỤC

Đỗ Văn Phúc

 

Chương 1

Trại Tù Long Khánh

 

Phần 6: Hết Mơ Ngày Về

 

 

Những thao thức không giải quyết được cứ lởn vởn trong tâm trí chúng tôi ngày đêm. Lo cho ḿnh một; mà nghĩ về gia đ́nh trăm lần nhiều hơn. Đất nước đă hoà b́nh, chúng tôi giờ chỉ c̣n hai bàn tay không, c̣n làm được ǵ mà người ta phải e sợ đến phải giam giữ lâu dài? Đồng minh đă bỏ cuộc từ lâu, chúng tôi chẳng hề mảy may hy vọng họ tiếp sức cho những nhóm tàn quân c̣n cố vẫy vùng. Năm cuối cùng chương tŕnh cử nhân Chính Trị học tại Đại học Vạn Hạnh, tôi đă viết một tiểu luận về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong vấn đề Việt Nam. Dựa trên một loạt những diễn biến chính trị quan trọng: cuộc tranh chấp Nga Hoa ở  biên giới hai nước, chuyến đi thăm chính thức của Tổng Thống Nixon tại Bắc Kinh năm 1972, việc Nga Sô tăng cường ảnh hưởng tại Ấn Độ để bành trướng về hướng Đông Nam, chuyến đi của Henry Kissinger đến mười bốn nước Ả Rập theo sau vụ Khủng hoảng Dầu lửa; cuộc hội nghị thượng đỉnh giữa Tổng Thống Hoa Kỳ Gerald Ford và Tổng bí thư Leonid Brejnev tại Vladivostock năm 1974. Sau đó là những diễn biến xảy ra liên tiếp như việc các nước Ả Rập yêu cầu Liên Sô rút quân, vũ khí, hoả tiễn ra khỏi Ai Cập và các nước Trung Đông, việc Hoa Kỳ trở lại Trung Đông khai thác các giếng dầu hoả. Tôi đă tiên đoán rằng Hoa Kỳ và Liên Sô sẽ trao đổi vùng ảnh hưởng Đông Dương và vùng Trung Đông để thoả măn quyền lợi thiết yếu của hai siêu cường.… Đại đức Thích Giác Đức, giáo sư môn Bang Giao Quốc Tế đă đánh giá bài tiểu luận rất cao. T́nh h́nh miền Nam đă có những triệu chứng bất tường nghiêm trọng ngay từ sau khi bỏ mất Tây Nguyên và Trị Thiên. Nhưng quân đội Việt Nam Cộng Hoà vẫn hết ḷng chiến đấu để cố giữ miền Nam cho đến khi Hoa Kỳ thực sự phủi tay, cắt hết quân viện.

Giờ đây, ngồi trong những dăy nhà giam kiên cố, chúng tôi có nhiều th́ giờ chiêm nghiệm lại những biến cố đă qua và cố t́m những câu an ủi: Thôi th́ vận nước như thế. Tận nhân lực, tri thiên mệnh vậy.

Những buổi chiều, sau khi đă gần hết một ngày, nắng đă xuống thấp bên ngoài những khu vườn. Từ những chiếc loa ở góc trại, văng vẳng những bài hát “Cách mạng” chói tai và những lời tuyên truyền cũ rích nhàm chán. Một hôm, chúng tôi lại được nghe giọng ca ngọt ngào của đào Thanh Nga. Nhưng lần này, không phải là sáu câu t́nh tứ như ngày trước; mà là những câu ca tụng đảng và “Bác Hồ”.  Thanh Nga kết thúc bài vọng cổ bằng hai câu thơ:

 

Tháp Mười đẹp nhất bông sen

Việt Nam đẹp nhất tên vàng Hồ Chí Minh.

 

Tôi tức khí, nhái lại khe khẽ:

 

Trong hầm thối nhất cứt khô

Việt Nam tởm nhất tên già Hồ Chí Minh.

 

Cũng thời gian trước khi học mười bài, tôi đă bị một lần “Bệnh do khẩu nhập, họa do khẩu xuất.” và như đă ngồi trên ḷ lửa gần một tuần lễ.

Buổi thảo luận đầu tiên của bài một có mặt anh cán bộ trung ương. Sau khi anh này nói sơ qua về cách thức thảo luận, and Đ. đă giơ tay xin phát biểu:

- Trước khi đi vào thảo luận, tôi xin nhắc anh em phải an tâm, tin tưởng vào cách mạng. Mấy hôm rồi, tôi có nghe ai đó nhắc lại câu của Nguyễn Văn Thiệu “Đừng nghe những ǵ Cộng Sản nói; mà hăy nh́n kỹ những ǵ Cộng Sản làm”. chứng tỏ anh đó chưa tin tưởng

Tôi bỗng thót ḿnh lại. Chết chửa, lần này chắc đi đong rồi. Đúng là thần khẩu hại xác phàm! Không phải chỉ có ḿnh tôi lo lắng, mà gần như rất nhiều người cũng từng nói nhỏ to với nhau câu đó. V́ thế, thấy trong ánh mắt nhiều anh vẻ bồn chồn. Không khí im lặng một cách nghiêm trọng. Tôi liếc nh́n anh Đ. thăm ḍ. Nhưng không nghe anh nói thêm điều ǵ. Sau cùng th́ anh cán bộ lên tiếng yêu cầu ai đă phát ngôn câu trên hăy đứng ra nhận:

 - Chúng tôi biết các anh mới vào trại, chưa được học tập. Nên tư tưởng c̣n băn khoăn. Anh nào đă nói câu đó th́ hăy tự giác đứng ra nhận. Cách mạng lúc nào cũng khoan dung với người biết nhận lỗi.

Cả mười lăm phút trôi qua, chẳng ai lên tiếng. Anh cán bộ cho tiếp tục cuộc thảo luận. Từ sau đó, tôi như ngồi trên ḷ lửa. Anh Đ. vốn hiền hoà, vô tư lự. Tôi biết anh chẳng hề muốn hại ai. Chẳng qua v́ anh là dân chuyên môn, ít có suy nghĩ sâu sắc về chính trị. Vả lại, tôi là bạn cùng khoá với em của anh, chắc chắn anh chẳng bao giờ hại tôi. Tuy thế, những lúc có dịp ngồi gần với riêng anh, tôi cũng rán thăm ḍ xem anh đă nghe ai nói. Tôi cũng đă làm bộ kể chuyện Bá tước Monte Cristo như để hù doạ anh về việc nếu anh khai tôi ra, tôi sẽ làm như anh chàng Edmond Dante là trả thù cho tàn mạt cả gia đ́nh kẻ đă hại ḿnh. Anh Đ. được gọi lên pḥng cán bộ hai lần những ngày sau. Đó là những lần tôi thẫn thờ, lo lắng. Nhưng không thấy động tĩnh ǵ.

Ba ngày sau, một buổi tối sau cơm chiều, toàn đội được lệnh tập họp kiểm điểm. Có mấy anh cán bộ cấp tiểu đoàn xuống đặt ghế bên ngoài pḥng để theo dơi. Một anh đe doạ:

- Các anh sẽ ngồi kiểm điểm hết đêm nay, ngày mai, ngày kia… cho đến khi nào t́m ra được người phát ngôn câu nói.

Sau bao lần anh B trưởng năn nỉ kêu gọi tự giác, chẳng ai đứng ra nhận. Cuối cùng vào gần khuya, một anh giơ tay lên. Cả chục con mắt hướng về anh đó. Tôi gần như thở phào, trút bỏ lo âu v́ có người sắp nhận tội. Anh ấy nói:

- Thưa các anh, theo tôi, người nói câu đó có ư rất tốt. Chúng ta đừng nghe những la rầy của các anh bộ đội để đánh giá các anh là ghét bỏ chúng ta mà hăy nh́n những điều các anh đă làm cho chúng ta. Nào là lo chỗ ăn, chỗ ở, nhắc nhở mọi điều theo đúng chính sách nhân đạo của cách mạng

Hùa theo đó, nhiều anh khác cũng lên tiếng khen các bộ đội cư xử tốt, săn sóc trại viên, vân vân. Nghe bùi tai, mấy anh bộ đội kết luận sơ sài rồi cho giải tán. Thế là tạm thời tai qua nạn khỏi. Nhưng chúng tôi cũng phải ḍ chừng, nghe ngóng những tuần sau đó mới thực sự an tâm.

Thỉnh thoảng, vào nửa đêm, đă có những đợt gọi tên nhiều anh. Họ được lệnh gấp rút chuẩn bị tư trang ra tập họp trước sân, điểm danh một hai lần rồi bị dẫn đi mất. Những người c̣n lại tha hồ đoán ṃ: Họ được thả về; họ bị đưa đi nới khác; thậm chí có anh phán một câu xanh rờn:

- Họ bị đem đi bắn.

Những anh có trí lự th́ xét trên quá tŕnh hoạt động quân đội, liên hệ gia đ́nh của các anh bị dẫn đi để phán đoán phần nào có lư hơn:

- Mấy anh này là dân văn pḥng, có thân nhân “cách mạng”. Chắc họ được cho về sớm.

Nhưng đă cho về th́ tại sao lại nửa đêm hôm khuya khoắt? Chỉ những hành vi tội ác mới xảy ra trong đêm tối mà thôi! “Cách mạng” ǵ mà làm cái ǵ cũng mờ ám cả.

Chừng sau giữa năm 1976, đến lượt chúng tôi được gọi tập họp. Lần này th́ hơn nửa nhân số của trại; và đặc biệt xảy ra vào ban ngày ban mặt. Do đó, chúng tôi có phần lạc quan. Trước khi xách hết tư trang ra sân để bị khám xét rất kỹ, tôi lén hỏi anh Sự:

- Anh giữ giùm tôi mấy món đồ nhôm chưa gửi kịp về nhà và các dụng cụ lỉnh kỉnh… Khám xong rồi anh giao lại nhé.

Thường khi, mỗi lần khám tư trang, anh Sự vẫn cất giùm tôi những món đồ cần giấu diếm. Anh Sự nói có vẻ rất thành thật:

- Các anh được về, không cần các dụng cụ ấy nữa.

Trời ơi! Được về! Tôi muốn hét to lên biểu lộ sự mừng rỡ sau gần một năm trời chờ đợi hai chữ ấy. Mà sự vui mừng ấy cũng không phải không có cơ sở. V́ nh́n lại thành phần mới được kêu tên ra sân, toàn những anh em thuộc các đơn vị hành chánh. Một số cấp nhỏ như chuẩn úy, thiếu úy; một số khác cũng ở trong hoàn cảnh như tôi, đă giải ngũ trước 30-4-1975. Tôi quẳng hết các dụng cụ: cưa, dũa, mũi khắc… vào xó nhà rồi nhét vội những chiếc lược kẹp vào túi “sac marin.”

Buổi sáng mát trời. Ḷng rộn ràng như mở hội. Tôi nói chuyện huyên thiên cùng các anh đứng kế cận cho đến khi các bộ đội đến và bắt đầu màn kiểm soát tư trang mà anh em chúng tôi gọi đùa là “bày bán chợ trời.” Lần bày bán chợ trời này rất nhộn nhịp. Ai cũng mong cho chóng xong để về sớm, và chẳng ai dấu diếm món ǵ nữa. Anh Đẳng đứng cạnh tôi lôi trong túi ra cây bút Parker mà anh đă dùng sơn, sơn nham nhở bên ngoài, khoe:

- Ḿnh làm cho nó dị hợm thế này mới giữ được đến nay. Bọn nó thấy bút máy là ham lắm.

Quả vậy, những lần khám đầu tiên, chúng tôi không dè rằng những vật dụng nhỏ nhoi vô giá trị lại là những thứ mà các anh bộ đội rất để mắt đến. Cái muỗng inox, cái dao khui hộp, cho đến cây viết Bic bấm, cái cắt móng tay… đều bị tịch thu để vào túi riêng các anh bộ đội. Sau này mới hay rằng những thứ đó ngoài Bắc chưa hề có. V́ thế, chúng là những món hàng cao cấp đối với họ. 

Khám xong, sau vài lời phi lộ ngắn ngủi của cán bộ đội, từng nhóm chúng tôi được dẫn ra khỏi trại. Vệ binh dắt đi ṿng vo cả giờ đồng hồ trong phạm vi căn cứ của Sư đoàn 18 Bộ binh. Đi đă mỏi chân. Hành trang càng lúc càng nặng dần. Chúng tôi được dừng chân nghỉ vài chặng rồi đi vào môt khu có nhiều vườn chuối và cây ăn quả. Trên đường dẫn vào những lán tre vách đất sơ sài mới dựng lên gần đây, chúng tôi thấy những xích xe tăng trải dài xuống con đường nhỏ. Một anh chừng quen thuộc với khu này, nói lớn lên: “Hậu cứ Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh.”

Bên trong trại có nhiều căn nhà tôn. Những con đường đi trong trại rất hẹp và bị rào kín hai bên. Trên mặt đất được lót bằng gạch đá vụn lởm chởm. Có lẽ nhưng gạch vụn này lấy từ những căn nhà bị sập vỡ do vụ nổ vừa qua. Nhiều anh em đứng lố nhố nh́n chúng tôi. Vài người nhận ra nhau, gọi ơi ới. Tôi chẳng thấy có ai quen cả. Vào một căn nhà lớn dùng làm hội trường, chúng tôi lại được phân chia thành tổ, đội, nhà… Lại những anh em mới, lại hỏi han nhau đơn vị cũ…

Tổ chúng tôi ở trong một căn biệt thự trống rỗng sát hội trường. Bên hông đă có sẵn một cái giếng xây kiên cố. Chúng tôi t́m những viên gạch, ván để tự lót chỗ nằm. Lần này coi có vẻ bề thế hơn, tổ chúng tôi có được chỗ rộng, nên đă đặt thêm một chiếc bàn ọp ẹp bên cửa sổ. Ngay cửa ra vào bên hông nhà, có một gian trống lợp tôn mà chúng tôi dùng làm nhà bếp cho tổ.

Sau gần một ngày di chuyển, thực ra chúng tôi chẳng đi đâu xa. Hậu cứ thiết giáp này chỉ cách trại cũ chừng trăm thước. Họ cố dắt chúng tôi đi ṿng vo để đánh lạc hướng.

Chúng tôi túa nhau ra khu vườn kiếm các món “cải thiện”. Ở đây nhiều chuối, có cây đă ra hoa, có cây đă có buồng sắp chín. Anh em chúng tôi chẳng tha món ǵ. Nhiều nhất là các cây ớt chỉ thiên, loại cho trái chuyển từ màu vàng, tím, qua chín đỏ; ăn rất cay và thơm. Ngoài ra, vô số cây đậu bắp, mồng tơi. Tôi lẹ tay, chặt được buồng chuối đang chín tới đem về dấu dưới gầm giường.

Đến chiều tối, toàn trại tập họp. Cũ mới có tất cả bốn đội. Theo dọ xét, chúng tôi biết có hai đội toàn những bác sĩ, dược sĩ và nha sĩ; một đội toàn những anh có thân nhân trong chính quyền mới, và đội chúng tôi mà thành phần như vừa nói ở đoạn trên.

Do đó, cứ suy ra, th́ đây là những người được xét cho về sớm, và đang tập trung tại trại này để chờ làm thủ tục.

Một anh bộ đội c̣n rất trẻ, nhưng khá điển trai, tự xưng là đội trưởng đội tôi. Anh ăn nói gọn gàng, ra vẻ con nhà binh chuyên nghiệp. Anh chẳng thổ lộ điều ǵ ngoài việc nhắc nhở chúng tôi giữ ǵn nội quy, an tâm tin tưởng và lao động tích cực. Một anh khác, tên Thanh, - dáng người to cao, vạm vỡ như anh Vọi trong truyện Trống Mái của Nhất Linh – than phiền rằng anh em mới đến đă hái trộm nhiều hoa màu. Anh hỏi ai đă chặt buồng chuối? Chẳng ai nhận cả. Anh Thanh có vẻ hiền lành. Anh nói:

- Tôi là hậu cần của trại. Các anh cần ǵ cứ hỏi tôi chứ đừng hái trộm như thế nhé.

Trong tuần lễ đầu tiên ở trại T5 này, chúng tôi được khuyền khích trồng các hoa màu và sản xuất những món hàng mỹ nghệ. Họ nói với chúng tôi:

- Để khi gia đ́nh, cán bộ địa phương các anh đến, sẽ nh́n thấy thành quả học tập cải tạo của các anh.

Lao động tại đây nhàn hạ. Ngoài những khu vườn hoa màu của trại, anh em chúng tôi chiếm riêng mỗi người một khoảnh đất nhỏ chừng 3 x 5 mét vuông để trồng riêng cho ḿnh. Đất màu mỡ, nước tưới đầy đủ; chẳng bao lâu chúng tôi đă có những cây rau cải bẹ xanh mướt, những cây đậu bắp, su hào, xà lách, ớt, lá thơm… Lúc này chúng tôi không ăn cơm, mà được phát bột ḿ. Một số anh rành nghề đă chế biến ḷ nướng bánh ḿ bằng các thùng phuy, dùng than đá do chúng tôi vắt thành nắm bằng nắm tay. Ngày th́ ăn bánh ḿ, ngày th́ ăn bánh bao (không nhân). Thức ăn cũng tương đối khá. Chúng tôi đă biết làm bẫy bắt chuột để ăn. Thỉnh thoảng đánh được con rắn hổ đất đem về cạo vẩy bằm nhỏ ra rồi xào với tiêu hành mắm muối và nấu cháo ăn rất thơm ngon.

Thấy ngày về đă trong tầm với, anh em chúng tôi vô cùng hân hoan. Tuy nhiên, v́ phải sinh hoạt chung đụng với những anh có thân nhân Việt Cộng, tôi cố gắng giữ mồm giữ miệng để khỏi mang hoạ. Trong lần sinh hoạt học tập đầu tiên, đă có một anh dẻo miệng lên tiếng:

- Xin phép các anh (chỉ các cán bộ trại) cho phép chúng tôi từ nay được gọi đảng Cộng Sảnlà “đảng ta”!!!

 Nhiều người đă quay nh́n về hướng anh “tân đồng chí” biểu lộ thái độ khinh bỉ cái cách nịnh hót vô duyên đó.

Trong nửa năm c̣n lại, đă có nhiều đợt được thả về. Nhưng lại có những người mới từ trại khác chuyển qua nên nhân số xem như không thay đổi mấy. Ai cũng nôn nóng trông chờ đến lượt ḿnh. Ngày qua tháng lại, chương tŕnh “triển lăm thành quả lao động học tập” dần dần đi vào quên lăng. Chúng tôi lại phải lên lớp học thêm bảy bài về chính sách, đường lối. Và dĩ nhiên sau đợt học tập này, lại có màn “tổng thu hoạch, tổng kiểm điểm”, “phê b́nh và tự phê b́nh”.

Trong đợt phê và tự phê, lần lượt mọi người trong tổ phải đọc hết bản tổng kiểm điểm của ḿnh trước tổ. Anh PXD, một cựu sĩ quan Hải Quân, người vùng Quảng Nam Quảng Ngăi, đă không chịu đọc phần phê b́nh. Anh tổ trưởng nhất quyết bắt phải đọc ra; v́ ai cũng đă đọc hết phần đó trong bài của ḿnh. Anh PXD cuối cùng  đă đọc một cách vắn tắt:

- Nhận xét về anh Đỗ Văn Phúc: chưa tin tưởng cách mạng…

 Chúng tôi biết đoạn văn anh viết phải dài và đầy đủ chi tiết để chứng minh, nhưng anh đă chỉ nói lướt qua. Tôi nóng mặt to tiếng:

- Anh PXD phải đưa bài của anh cho anh tổ trưởng đọc. V́ đây là buổi sinh hoạt “phê và tự phê” công khai.

PXD khăng khăng không chịu. Cuối cùng chúng tôi phải chịu thua. Lại một lần nữa, tôi vướng vào sự lo âu. Đêm về, cố gằng ôn lại xem ḿnh đă phát ngôn những ǵ mà PXD đă nghe được.  Chao ôi, cả hàng tháng trời, bao lần nói năng vô ư tứ, không lo giữ mồm giữ miệng. Nay mới thấy cái tai hại mà có thể định đoạt số phận ḿnh trong những ngày sắp tới.

Những ngày giáp Tết Đinh Tỵ 1977, trại cho thăm nuôi quà cáp. Nhiều anh đă được gặp gia đ́nh, hớn hở ra phết. Sau khi chia xẻ quà cáp cho anh em trong tổ, thế nào người mới được thăm cũng khe khẽ loan báo vài tin tức bên ngoài do gia đ́nh cho hay. Th́ ḿnh cũng cần biết để khi trở về bên ngoài, khỏi bở ngỡ chứ!

Gần đến giờ tắt đèn đi ngủ, tôi thấy anh X. bước đến bên sạp gỗ tôi nằm. Anh hắng giọng và nói rất nhẹ nhàng:

- Anh Phúc ơi, tôi thành thật chia buồn cùng anh.

Tôi nhỏm dậy:

- Chia buồn ǵ anh?

- Th́ nghe vợ tôi nói chị ở nhà mất đi một cháu mà!

Tôi bỗng bàng hoàng, lắp bắp:

- Anh nói sao? Cháu nào?

H́nh như anh biết ḿnh hớ, nên vội nói:

- Chắc tôi lộn. Xin lỗi anh.

Tôi vật ḿnh nằm xuống, đầu óc quay ṃng. Con tim tôi như bị ai bóp nghẹt. Mất đi một cháu. Không thấy thư từ ǵ từ gia đ́nh cả! Mới Tết năm ngoái, các cháu đều trông khoẻ mạnh cả mà. Vừa không tin, nhưng vẫn bồn chồn. Thao thức, trở ḿnh qua lại nhiều lần mà tôi vẫn chưa thoát khỏi tâm trạng bứt rứt về cái tin sét đánh ngang tai. Mất đi một đứa con! Nếu thật thế, th́ là đứa nào? Cháu Lộc, con đầu, là kỷ niệm đẹp đầu tiên của mối t́nh màu hoa đào. Chẳng thể nào mất cháu. Cháu Trang, đứa con gái độc nhất. Mọi lần tôi từ Phan Rang về Đà Lạt thăm cháu - khi đó ở với ông bà ngoại – cháu mếu máo:

- Ba đừng bỏ con Trang nghe Ba.

Ba đă không bao giờ bỏ con. Lần này, con đừng bỏ Ba nghe con. Cháu Huy áp út, ngoan ngoăn, xinh xắn. Lúc tôi ra đi, cháu c̣n lúc thúc bên chân. Cháu Chương th́ sinh vào tháng tư năm 1975. V́ cháu c̣n đỏ hỏn trên tay mẹ, lại là lúc hỗn quân hỗn quan, gia đ́nh tôi đă bị kẹt lại không thể chạy vào Tân Sơn Nhất cho kịp các chuyến bay vào giờ thứ 25 của Sài G̣n thất thủ. Nếu Thượng đế cho tôi chọn một cháu để mất, th́ chẳng có người cha, người mẹ nào đành ḷng chọn. Tôi chẳng muốn mất cháu nào. Mà nếu có mất thật, th́ trời ơi!  Tôi chẳng muốn nghĩ tiếp. Nhưng nó cứ vương vấn măi trong tâm trí. Tôi đă bật lên những tiếng nức nở và bồn chồn mong mau tới ngày thăm nuôi để khám phá ra sự thật.

Khi được gọi tên ra cổng để được thăm.Tôi vừa mừng, vừa lo. Đây là giây phút phải đối diện sự thật đau ḷng. Mẹ tôi và hai cháu trai từ phía cổng bước vào nhà thăm nuôi. Vợ tôi tay dắt cháu gái theo gót, bước đi không được b́nh thường. Trên tay không thấy bế cháu út như tôi mường tượng. Thế là rơ. Tôi ̣a lên khóc rất lớn, và đă hét lên:

- Ngày xưa chúng mày giết cha tao. Ngày nay chúng mày lại giết đến con tao. Tao sẽ chẳng bao giờ quên mối thù này.

Vợ tôi nhào đến đưa tay bịt miệng tôi lại, nhưng không kịp. Các anh em bạn khác và gia đ́nh xung quanh đó đều nh́n về tôi lộ vẻ hoảng hốt. Người cán bộ hướng dẫn thăm nuôi ngồi trên chiếc ghế đầu pḥng đă nghe hết. Anh ta không nói một tiếng. Tôi biết tôi đă tự tuyên cho ḿnh một cái án rất nặng nề, có thể đổi sinh mạng như chơi.

Sau vài phút trấn an, vợ tôi đă mếu máo kể cho tôi nghe rằng cháu út bị sốt xuất huyết và không bệnh viện nào nhận cháu v́ là con của người đang cải tạo, mà tiêu chuẩn cao nhất là các trạm y tế phường. Cháu đă qua đời v́ không có thuốc men và chữa trị đúng mức. Sau 1975, bệnh sốt xuất huyết lan tràn. Phần do điều kiện vệ sinh càng ngày càng tồi tệ. Phần do thiếu thốn thuốc men và nhân viên y tế. Đứa con vắn số tội nghiệp của tôi chắc đă quằn quại trong những giờ hấp hối. Vợ tôi cũng kể chuyện sau ngày mất con, bao ưu phiền, thiếu thốn đă làm cho nàng suy nhược và bệnh bao tử lại phát khởi. Nàng phải tạm ngưng điều trị để di thăm chồng cho kịp thời hạn quy định của trại.

Ḷng tôi dâng lên niềm cảm xúc khó tả. Tôi bất lực, nghe chuyện buồn gia đ́nh mà không biết làm sao giải quyết. Mẹ tôi th́ trông già hơn rất nhiều dù chỉ sau chưa tới hai năm xa cách. Tôi cầm bàn tay nhăn nheo của Mẹ mà mắt rưng rưng, ḷng tê tái.

Nhiều đợt được về trong tháng đầu sau Tết. Người về th́ hớn hở vui mừng; người ở lại th́ nuôi nhiều hy vọng. Riêng ḿnh tôi, sau vự việc PXD và lần thăm nuôi vừa qua, biết trước chẳng đến lượt ḿnh.

Lúc này đang vào xuân. Cây cối trong khu trại xanh tươi. Những luống rau nhờ tưới và chăm bón kỹ, đă phủ đầy mặt đất những lá rau xanh mướt.

Phiá ngoài hàng rào trại có nhiều cây buông là nơi trú ngụ của những con tắc kè màu xanh dương. Những lúc về khuya thanh vắng, chúng bắt đầu lên tiếng kêu từng chập “tắc kè.. tắc kè”. Âm sắc khô ḍn nhưng lại nghe buồn năo ruột. Anh Long nằm cạnh tôi thở dài nhại lại tiếng tắc kè:

-          Hết dzề, hết dzề!

 

Chừng cuối tháng hai, tôi và một số khoảng ba chục người được lệnh thu xếp tư trang ra tập họp để chuyển trại.

Xe rời cổng đi theo quốc lộ Một về hướng Nam. Lại phân vân, lại đoán ṃ. Đă có anh cho rằng ḿnh được về hướng Sài g̣n là triệu chứng tốt, chắc chắn sắp được tha. Tôi không tin thế!