| |
















|
|
Những ngày đầu tiên của Căn cứ 20 CT
Không quân
Đỗ Văn Phúc
Khi cái ramp của chiếc C-7 hạ xuống, tôi tháo giây nịt an toàn đứng
dậy nh́n ra phi đạo. Một cơn gió nóng hắt vào theo những luồng nắng
màu vàng sậm. Phan Rang đây rồi. Tôi xách túi hành lư, bước chân
xuống ngơ ngác nh́n quanh. Chỉ toàn là quân nhân Mỹ. Một sĩ quan
không quân tốt bụng cho đi nhờ chiếc xe pick up về nơi tạm đặt văn
pḥng của toán Không quân Việt Nam đang tiến hành nhiệm vụ tiếp thu
căn cứ.
Đó là những ngày cuối năm 1971 khi các đơn vị của Không Lực 7 (Không
đoàn Yểm cứ 312 và Không đoàn Chiến thuật 312) chuẩn bị để rời Phan
Rang trong chương tŕnh Việt Nam hoá chiến tranh và bàn giao căn cứ
lại cho Sư đoàn 2 Không quân.Việt Nam.
Tôi là một sĩ quan bộ binh được chuyển về Không quân do nhu cầu phát
triển quân chủng. Rời chiến trường Lộc Ninh c̣n đang diễn ra ác liệt,
tôi vui sướng hưởng được mười lăm ngày phép hiếm hoi với gia đ́nh
rồi tŕnh diện Bộ Tư Lệnh Không quân để sau đó, được đưa ra Phan
Rang ngay. Là một trong khoảng hơn ba chục quân nhân VN đầu tiên có
mặt ở Phan Rang, chúng tôi đă bắt đầu công việc một cách khó khăn v́
thiếu phương tiện, nhân sự, mà căn cứ lại quá lớn, quá nhiều tiếp
liệu, nhiều cơ sở kỹ thuật tân tiến mà chúng tôi c̣n rất bở ngỡ.
H́nh
bên: Căn cứ Phan Rang nh́n từ trên không
(Bấm vào để xem lớn hơn)
Người anh cả ngày đó là Đại tá Nguyễn Đ́nh Giao, hiền lành và cởi mở.
Đại tá Giao là Chủ tịch Ủy ban Tiếp Thu Căn cứ. Sau này
Đại tá Nguyễn Văn Bá là Chỉ huy trưởng đầu tiên của Căn cứ 20 Chiến
Thuật KQ, mà trong những tháng đầu, nghe đâu được đề nghị đặt tên là
Lữ đoàn 21 KQ (nhưng bảng cấp số chưa được Bộ Tổng Tham Mưu chấp
thuận). Dưới ông là Trung tá Vơ Văn Ân, về sau là Không đoàn phó KĐ
92/CT, Thiếu tá Nguyễn Văn Thiệt, (sau là Liên đoàn trưởng Pḥng Thủ)
một hoạ sĩ biếm họa tài ba, mà sau này đă giúp tôi rất nhiều trong
việc ấn hành bản tin hàng tháng “Gió Cát”. Đúng là chúng tôi đă h́nh
thành một cái khung chỉ huy cấp Không đoàn, Liên Đoàn, Đoàn, Khối,
Pḥng, Ban trở lên cho căn cứ trong tương lai. Tôi c̣n nhớ nhiều tên
các sĩ quan như sau: Đại Úy Trương Khương (Pḥng Vệ), Thiếu Uư Lương
Văn Cón (Quân Cảnh), Trung úy Vũ Văn Phán (Chuyển Vận), Trung úy Lân
(Truyền Tin), Đại úy Long (Yểm trợ Hành Quân), Đại Uư Trần Phước Hội
(Bảo Tŕ), Trung úy Phạm Thế Dân (Tiếp Liệu), Trung úy Nguyễn Văn
Ngà (Cư Xá), Trung Úy Nguyễn Văn Phước (Ẩm Thực), Y sĩ Trung úy
Nguyễn Dương, Dược sĩ Thoại, Nha sĩ Sanh, Trung Úy Lư Phước Lộc (Nhân
Viên), Đại Uư Nguyễn Minh Tâm (Huấn Luyện), Trung úy Vinh (Tài chánh),
Đại úy Nguyễn Tấn Mỹ (An Ninh KQ).
(Cấp bậc trong bài viết này là cấp bậc của thời điểm đầu năm 1972)
Trong khi các anh em khác đều là quân nhân KQ từ Sư đoàn 2 chuyển
vào, có nhiều hiểu biết về tổ chức quân chủng, th́ tôi là “em mới”
ngơ ngác, quân phục tuy đă thay phù hiệu, nhưng vẫn c̣n c̣n vương
hơi thuốc súng và dấu vết đất đỏ miền Đông Nam phần. Ấy thế mà tôi
lại là một trong những người được đi nhận nhiều cơ sở và trang bị
nhất trong căn cứ. V́ là một quân đội nhà giàu, quân nhân Mỹ được
hưởng nhiều tiện nghi vật chất, nên đơn vị Tổng vụ của Hoa Kỳ quản
lư gần như một phần tư tài sản của căn cứ gồm các hội quán, PX, rạp
chiếu bóng, hồ bơi, du thuyền, câu lạc bộ… mà lẽ ra, đoàn Tổng vụ
KQVN phải kư nhận. Nhưng mấy ông Tổng vụ Không quân quá rành sáu câu,
nên đă biết không dại ǵ vơ vào để sau này có thể mang hoạ. Thế là
anh sĩ quan CTCT mới gia nhập gia đ́nh quân chủng bèn được ưu ái cho
lănh nhiệm vụ này. Lúc c̣n ở Bộ binh, tôi làm đơn vị trưởng chiến
đấu, tiếp liệu đă có người lo, nên không hề thấy hết cái phức tạp
của ngành này. V́ thế, tôi cứ ngày ngày tà tà đi theo các sĩ quan Mỹ
đến hết kho này đến kho kia, từ bên này qua bên kia phi đạo xa lắc,
để kư nhận hàng ngàn món vật dụng mà sau này, cho đến khi rời Phan
Rang về nằm Tổng Y viện Cộng Hoà, tôi không có một dịp thứ hai để
kiểm kê lại mất c̣n ra sao.
Cuộc sống ở Căn cứ Phan Rang những ngày đầu tiên rất đơn điệu. Ngày
ngày đi kư nhận cơ sở, vật liệu. Đến chiều, anh em chúng tôi leo lên
mấy cái pick-up về pḥng ngủ, tắm rửa rồi kéo nhau lên Câu lạc bộ Sĩ
quan nằm trên một ngọn đồi nhỏ để ăn tối. Trong thời gian này, quân
nhân VN được chiêu đăi miễn phí cả ba bữa ăn: sáng, trưa, chiều.
Thức ăn dồi dào thừa mứa, như bên này chúng ta ăn ở các nhà hàng
“all you can eat”. Thửa đó, chúng tôi chẳng biết tên món nào vào món
nào, nên phải chỉ cho anh đầu bếp Mỹ múc vào cho ḿnh, giống như
kiểu ăn “cơm chỉ” ở quán ăn bên hông rạp cine góc đường Lê Lợi và
Công Lư ở Sài g̣n ngày xưa vậy.
Lính Không quân là sướng nhất trong quân đội VNCH, thứ nhất ở các
thành phố lớn, thứ hai là tiện nghi rất cao. Phan Rang là một trong
hai căn cứ sau cùng do Hoa Kỳ chuyển giao, nên tất cả tiện nghi kiểu
Mỹ c̣n như nguyên vẹn. Chúng tôi được chia cho các căn pḥng mà
trước đó dành cho sĩ quân độc thân, nên c̣ đủ giường, nệm, tủ áo hai
cánh, tủ nhỏ 6 ngăn, bàn viết, ghế nệm. Duy chỉ có cái máy lạnh là
bị gở đi mất. Có lẽ các bạn Mỹ cho rằng dân Việt miền nhiệt đới th́
đă chịu quen cái nóng nên không cần máy lạnh chăng?
Buổi tối, những anh có xe pick up th́ rủ nhau ra phố cách phi trường
chừng 5 cây số để vui chơi. Vài anh em c̣n lại quây quần trong cái
lounge đánh cờ tướng, tṛ chuyện gẫu. Tôi chưa quen ai, nên c̣n e dè
chưa biết phải hội nhập ra sao với các anh sĩ quan Không quân vốn
hào hoa phong nhă. V́ thế, tôi thả bộ qua Câu Lạc Bộ gần đó để uống
bia, nghe nhạc với Thượng Sĩ Jansen, là người cùng làm việc với tôi
trong suốt thời gian tiếp nhận căn cứ. Những năm đầu thập niên 70,
nhạc Rock-n-Roll rất thịnh hành. Câu lạc bộ tràn ngập trong khói
thuốc, hơi rượu và ầm ỉ tiếng la hét của ca sĩ Hard Rock. Thỉnh
thoảng cũng có những ban nhạc sống Đại Hàn, Phi, hoặc từ Mỹ đến.
Những đêm đó, thật đông và nhộn v́ chắc chắn có các cảnh tươi mát.
Ngoài việc hàng ngày đi kư nhận cơ sở, vật liệu; tôi bắt đầu thực
hiện một bản tin lấy tên là “Gió Cát”.Bản tin chừng 6 trang, gồm tin
tức tiến hành công việc, vài bài thơ của các anh trong ban tiếp thu,
vài tranh hí hoạ của Thiếu Tá Thiệt. Trên trang bià, tôi vẽ lại h́nh
chụp từ cockpit môt chiếc A-37, với người hoa tiêu nh́n từ sau nên
chỉ thấy chiếc nón và một phần mặt nạ của ống dưỡng khí. Việc in ấn
rất dơn giản bằng stencil là chính. Thế là măi bốn năm sau ngày ra
trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị, tôi mới chính thức làm công
tác CTCT.
Phan Rang là một địa điểm thích hợp cho việc bay bổng. Đứng trên
đỉnh đèo Ngoạn Mục cách phi trường chừng 50 cây số nh́n ra hướng
biển, là cả một vùng đất bằng phẳng. Thời tiết quanh năm khô ráo.
H́nh như chẳng có trận mưa nào suốt năm. Bầu trời th́ luôn luôn
quang đảng, không một gợn mây. Duy chỉ có gió và lại là gió cát. V́
thế người dân Phan Rang thường có đôi mắt không đẹp, do phải thường
nhắm nghiền lại để khỏi bị bụi cát.
Cuối tuần, đa số các anh có nhà ở Nha Trang đă đánh bài chuồn từ
chiều thứ sáu. C̣n lại một đám “mồ côi” như tôi chẳng biết làm ǵ
cho hết hai ngày nghỉ. Phương tiện th́ không có. Chúng tôi dùng
chiếc Step Van - chỉ được phép sử dụng trên phi đạo để đưa đón phi
hành đoàn mà thôi – ra phố chơi. Step van chỉ có ba số: Tới, lui và
parking. Ngoài tài xế là được ngồi trên ghế, anh em c̣n lại phải
ngồi bệt xuống sàn nếu không muốn đứng lắc lư con tàu đi suốt khoảng
đường 5 cây số.
Phan Rang là một thị trấn nhỏ, hiền lành. Có một con phố chính, là
đường quốc lộ 1, đoạn đi qua thị xă chừng dưới một cây số. Các đường
phụ đa số chạy qua khu dân cư, khu hành chánh. Tiệm ăn không nhiều.
Nhưng đặc sắc là có tiệm bán chim sẻ nướng. Những con chim nhỏ vừa
chín tới, thơm ngon. Mỗi con luôn đầu ḿnh (chân tay) vừa một miếng.
Thêm một vài tiệm bán đồ nhắm thủy sản mà ngon nhất là con hào, móng
tay, ăn nướng vĩ than hay xào, nấu cháo đều ngon. Phan Rang có hai
chị em cô Phụng, Hoàng là các đấu thủ bóng bàn cấp quốc gia; sau này
căn cứ có thêm Thiếu tá Tạ Duy Quư cũng là một tay vợt nổi tiếng.
Anh Quư thường đi săn chim mỏ nhác đem về. Tôi mua rượu chát đỏ
trong b́nh 5 lít cùng anh em thân thiết ngồi quây quần nhậu nhẹt
suốt đêm.
Từ cổng phi trường đi ra chừng vài trăm thước là thị xă Tháp Chàm.
Gọi là thị xă, nhưng đó chỉ là một điểm dân cư nhỏ quanh ga xe lửa
Tháp Chàm. Tại đây, có vài cơ sở dịch vụ vui tươi như quán "bà Tô"
mà anh em độc thân xa nhà thường ra "thử súng". Vài quán ăn lèo tèo.
Chỉ một nồi súp mà chủ quán có thể gia giảm để khi th́ bún ḅ, khi
th́ phở, hủ tíu, và canh các loại. Tuy nhiên chúng tôi cũng dễ dải
chấp nhận sau những ngày dài ăn toàn gà chiên, hamburger trong căn
cứ.
Căn cứ Phan Rang nổi tiếng là nhiều rắn. Đủ loại, đủ cỡ. Khi đă
thành đơn vị, gia đ́nh chúng tôi được phát những căn nhà nhỏ xinh
xắn ở khu Bánh ú (cấp trưởng pḥng) hay khu Red Horse. Từ cấp Liên
đoàn trưởng trở lên th́ được ở trong những trailer đẹp dựng ở các
sườn đồi. Gần như ngày nào chúng tôi cũng thấy rắn ḅ lổm ngổm. Có
lần rắn nằm chực ngay chỗ ṿi nước sau nhà, nơi vợ tôi thường hay ra
giặt giủ. Một lần, chị Phạm Bính (Trung tá Bính là Liên đoàn trưởng
LĐ 92 CT) đứng trước nhà nói chuyện với vợ tôi. Tôi vừa mặc áo quần
sửa soạn lên Bộ Chỉ Huy Căn cứ họp thường lệ. Vừa ra khỏi cửa, đă
nh́n thấy môt chú rắn hổ đang ngóc đầu ngay bậc thềm nhà anh Bính,
chỉ cách chỗ chị Bính chừng một mét thôi. May mà chị Bính đẹp và
duyên dàng, nên chú rắn cứ măi nh́n say đắm mà không tác hại. Phải
có hàng trăm con rắn đang sinh sống trong những nơi mà trước đó là
các căn nhà trailer đă bị Không quân Mỹ tháo đi, chỉ c̣n những đám
cỏ cao đến tận đầu gối không ai phát quang, dọn dẹp. Chúng thường ḅ
đến các căn nhà chúng tôi để kiếm nước, để lại những dấu vết trên
mặt đất khô.
Dần dà, quân nhân Việt Nam đến càng đông. Các đơn vị bắt đầu h́nh
thành với tạm đủ sĩ quan, hạ sĩ quan và binh lính. Nhưng cho đến khi
tôi rời đơn vị vào giữa năm 1973, bảng cấp số vẫn chưa được chính
thức thừa nhận. V́ thế, các anh gốc Sư đoàn 2 KQ vẫn mang chức vụ
cũ, trong khi chỉ có tôi và vài anh là mang chức vụ "Lèo" Do đó, sau
này chúng tôi có nhiều thiệt tḥi trong việc thăng thưởng. Đến giữa
năm 1972, chúng tôi vẫn chưa biết đơn vị ḿnh sẽ là Lữ đoàn 21 hay
Căn cứ 20 Chiến Thuật. Sự phiên chế vẫn chưa rơ ràng;
văn thư gửi đi c̣n đóng con dấu của Sư đoàn 2 KQ. Khối Chiến
tranh Chính trị là một thí dụ. Khi th́ nghe rằng khối CTCT trực
thuộc bộ Chỉ Huy căn cứ, có lúc lại nói rằng trực thuộc Không đoàn
Yểm Cứ Phan Rang.

Sau khi Đại tá Nguyễn Đ́nh Giao hoàn tất việc tiếp nhận, một lễ bàn
giao trong thể được tổ chức ngay tại sân lớn phiá sau toà nhà Bộ Chỉ
Huy. Tôi được vinh dự làm MC, Thiếu tá Nguyễn
Minh Tâm (trưởng pḥng
Huấn Luyện) làm sĩ quan Quân lễ. (h́nh đính kèm,
click vào h́nh để xem lớn hơn). Đại Tá Giao
chuyển về làm Tham Mưu trưởng Sư đoàn 6 KQ tân lập, Đại Tá Nguyễn Văn Bá
là Chỉ Huy Trưởng Căn cứ. Không doàn Yểm cứ do Trung tá Trần Đ́nh
Giao đảm nhiệm, Thiếu tá Nguyễn Văn Thiệt, Không đoàn phó kiêm Liên
đoàn trưởng LĐ Pḥng Thủ.. Không đoàn 92 Chiến Thuật do Trung Tá Lê
Văn Thảo nắm, Trung tá Vơ Văn Ân làm Không đoàn phó, Trung tá Phạm
Bính là Liên đoàn trưởng LĐ 92 CT, Thiếu tá Ấn (Hành Quân), Thiếu tá
Tạ Duy Quư (An Phi). Phi đoàn Kim Ngưu 534 ra đời, là đơn vị Phản
lực A-37 đầu tiên của Phan Rang, dưới quyền Thiếu tá Nguyễn Văn Thi.
Sau đó tăng cường Phi đoàn 524 của Thiếu tá Sử Ngọc Cả từ Nha Trang
vào, và phi đoàn 548 của Thiếu tá Trần Mạnh Khôi. Không
đoàn 92 CT có thêm một phi đội trực thăng 259D do Thiếu tá Nhân làm
Phi đội trưởng. H́nh như ông Nhân họ Tạ (Tạ Thành Nhân), hợp cùng
hai ông Tạ Hoà Hưởng và Tạ Thượng Tứ của Phi đoàn 534, Tạ Duy Quư
(An Phi) làm thành bốn sao quả tạ của Căn cứ!! Liên đoàn Bảo tŕ
Tiếp liệu do Thiếu tá Trần Phước Hội chỉ huy gồm có Đoàn Bảo tŕ
(Thiếu úy Xuyến); Chuyển vận (Đại úy Phán), Truyền Tin (Đại uư Lân),
Tiếp liệu (Đại úy Dân), Vũ khí (Thiếu úy Đức).
Căn cứ Phan Rang rất rộng, chu vi pḥng thủ dễ đến khoảng 30 cây số,
do một tiểu đoàn Địa Phương quân đảm trách phối hợp cùng Liên đoàn
Pḥng Thủ. Sĩ quan Tham mưu lâu lâu trực căn cứ một lần hai giờ; vừa
đủ đi một chuyến ṿng đai. Tôi ở Phan Rang hai năm h́nh như chỉ có
một vài lần bị pháo kích. Đa số các quả đạn lọt vào phía bên kia phi
đạo.
Đơn vị có một rạp hát rất rộng và đẹp. Nhưng máy móc th́ bị Không
quân Mỹ gở đi hết, chỉ c̣n một nền nhà trống trơn mà suốt mấy năm
trời, chúng tôi chỉ sử dụng một lần cho chương tŕnh văn nghệ học
tập. Đa số các buổi học tập cấp căn cứ và các buổi diễn văn nghệ
khác đều được tổ chức ở sân khấu lộ thiên, có các băng ghế gỗ đủ cho
3000 khán giả. Sân khấu lộ thiên này nằm cạnh một câu lạc bộ rất đẹp
(cũng bị bỏ trống nhiều năm), trên con đường ngoằn nghèo dẫn lên Câu
lạc bộ Hạ Sĩ Quan nằm trên đồi có giàn rada của căn cứ.
Sau khi quân nhân Hoa Kỳ đă hoàn toàn ra đi, các nhà ăn cũng bị Việt
Nam hoá. Từ hamburger, khoai tây chiên, nay chỉ ngửi thấy mùi đậu
xào, canh cải. Các "câu lạc bộ" do các quân nhân Việt trúng thầu mọc
lên, cung cấp các bữa ăn vừa túi tiền cho quân nhân trong đơn vị.
Rồi bắt đầu mọc lên những quán cà phê nhạc, mà đông khách nhất là
quán của phu nhân Đại Uư Lân (Truyền Tin).
Khối CTCT cũng sử dụng một dăy nhà đặt 4 bàn bi da cho quân nhân
giải trí. Nhưng v́ không ai chăm sóc nên rồi cũng dẹp tiệm sớm để
thay vào đó là vơ đường Thái Cực Đạo. Hồi đó, Thiếu tá Vơ Văn Thi
làm Trưởng khối CTCT, Trung úy Trần Thanh Tịnh (Tâm Lư Chiến),
Thượng sĩ Nguyễn Đ́nh Thiều làm báo chí, tôi làm Trưởng pḥng Chính
huấn, thường tổ chức các buổi học tập từ cấp đoàn đến cấp căn cứ.
Căn cứ đă có lần đoạt giải nhất toàn quân chủng trong đợt học tập về
Hoà đàm Paris.
Tôi
nhớ một lần, học tập cấp căn cứ rất trọng thể tại sân khấu lộ thiên.
Có Chuẩn tướng Nguyễn Văn Lượng, Sư đoàn trưởng và các sĩ quan cao
cấp từ Nha Trang vào tham dự. Tôi là thuyết tŕnh viên. Trưa đó, tôi
có việc ra phố Phan Rang liên lạc với khối CTCT Tiểu khu. Gặp một
đám bạn quen mời nhậu cho đến chiều, quên mất việc ḿnh sẽ lên
thuyết tŕnh vào lúc 7 giờ tối hôm đó. Sau khi quân nhân đă tập họp
đông đủ tại sân khấu lộ thiên, ông Thi (khi đó c̣n là Đại uư) t́m
tôi không ra. Hỏi qua nhà, nghe vợ tôi nói đă đi ra phố chưa về. Thế
là căn cứ cho một xe Quân cảnh đi t́m. Họ gặp tôi ở quán ăn, chở về
vừa kịp trước giờ khai mạc. Ông Thi đứng ngay bậc thềm bước lên sân
khấu hỏi: "Anh xỉn rồi, có nói được không?" Tôi tự tin: "Đại Úy đừng
lo." Có lẽ nhờ hơi ngà ngà, đêm đó tôi đă nói một cách hết sức hùng
biện và được Sư trưởng khen ngợi. Chỉ có vài anh biết chuyện, đùa
rằng: "Nhờ rượu nói đó."
Làm CTCT chưa đủ, tôi thường nổi máu giang hồ mạo
hiểm, nên hay đến với phi đoàn 534 xin đi theo các chuyến bay hành
quân. Tôi bay nhiều lần với Đại úy Dương Thiệu Chí, Thiếu tá Vơ Phi
Hổ. Thiếu tá Thi (Phi đoàn trưởng) cho phép tôi sử dụng dù và nón
bay của Thiếu úy Xuân, ưu ái cấp cho tôi một sổ Không vụ bạ ghi giờ
bay, coi tôi gần như một thành viên của phi đoàn. Thiếu úy Xuân (hy
sinh năm 1974), Thiếu úy Đạo kiếm cho tôi ba bộ áo bay ba màu khác
nhau (đen, xám và nomex) có đủ phù hiệu của Phi đoàn. Thường sau các
chuyến bay yểm trợ cho Sư đoàn 23 BB ở Buôn Hồ, Đại uư Chí thế nào
cũng tách hợp đoàn, bay qua thành phố Đà Lạt cho tôi nh́n lại căn
nhà vợ tôi nấp dưới những tàng cây xanh mướt. Anh cũng liều mạng tập
cho tôi cầm "stick" bay về căn cứ nhiều lần.
Tôi
cũng học cách sử dụng Tacan, Beacon để định hướng, biết thế nào là
Final Approach. Thế là tôi cũng phần
nào thỏa măn mộng bay bổng đă một lần không thành sau khi khám xong
sức khoẻ để nhập khoá 65A mà phải bỏ cuộc.
Giữa năm 1973, tôi bị nhiễm chứng bệnh Thyroid mà lúc đó Y sĩ Đại úy
Vĩnh Phương chưa t́m ra bệnh. Ông gửi tôi ra Quân Y Viện Nguyễn Huệ,
sau đó chuyển về Tổng Y Viện Cộng Hoà. Nằm được mấy tháng, biết căn
bệnh không thể trị được, TYV Cộng Hoà đưa tôi ra Hội Đồng Miễn Dịch
để giải ngũ với cấp độ tàn phế 70%. Tôi trở về đời sống dân sự cho
đến ngày quốc nạn để được nhà cầm quyền CS "khoan hồng nhân đạo" cho
"học tập cải tạo" tṛn mười năm.
Những ngày cuối cùng của miền Nam, tôi c̣n gặp Trung tá Trần Đ́nh
Giao một lần tại quán Gà, Xôi nướng nổi tiếng trên đường Hàng Xanh.
Sau đó, những ngày cuối tháng 4 hỗn loạn, lại nh́n thấy các anh em
Kim Ngưu không di tản kịp đang chen chúc nhau trên một chiếc xe jeep
qua đường Trương Minh Kư.
Rồi thôi.
Austin, Texas. Tháng 6, 2006 |
|