Trang Nhà Đỗ Văn Phúc

          Michael Do

Nhận Diện Kẻ Thù

 

 
 
 

Trang Chính

Truyện Dịch

Viết Về Lính

Quê Hương

Chuyện Tù

Nhận Diện Kẻ Thù

Chuyện Người

Các Bản Tin

Nhận Xét

Hội Luận

Tác Phẩm

Tiểu Sử

Gia Đ́nh

Trang Anh Ngữ

 

 

 

Khúc Minh Thơ bà là ai?

 

Hoàng Ngọc An

 

LGT: Sau những “ồn ào” năm 2008, bà Khúc Minh Thơ đă lui về gần như ở ẩn nhưng mới đây, Bà lại đứng ra làm nhân chứng cho vụ kiện cựu TNCT Đỗ Văn Phúc bởi Bà cựu thương gia Nancy Bùi Triều Giang. Hành động của một người “có vẻ” như cho rằng ḿnh là “mẹ đẻ” của “Chương tŕnh H.O” đă tự làm xấu bà. Nhưng điều đáng tiếc hơn nữa là sau vụ kiện, bà lại trả lời phỏng vấn của báo Người Việt với những “vu khống” đối với một cựu tù. V́ lư do đó chúng tôi bắt buộc phải gửi bài viết này. Xin hăy hiểu cho, nếu không tấn công vào hàng rào quốc gia, xóa mờ lằn ranh quốc cộng của cộng đồng người Việt hải ngoại th́ sẽ không có những bài viết kiểu này từ chúng tôi.

Nội dung bài này là dựa trên những ǵ bà Khúc Minh Thơ trả lời phỏng vấn báo Ngừơi Việt và chúng tôi chứng minh vài câu của bà là không đúng sự thật hay do bà tưởng tượng với “ác ư”.

V́ “giây mơ rễ má” nên chúng tôi đưa lại vài sự kiện liên quan đến “ Bà Khúc Minh Thơ và chương tŕnh ‘H.O’”.

Hy vọng đây là lần cuối cùng phải nói đến bà KMT cũng như chúng tôi mong rằng sẽ không phải phí thời gian cho những bài viết “ỡm ờ” có chủ đích biện minh cho hành động của những kẻ “buôn gió”.

Các bài liên quan:

Bà Khúc Minh Thơ và ngày hội CTNCT năm 2008

Hà Giang (báo NV) với phóng sự về Bà Betty Tisdale và câu nói của BS Phan Quang Đán

Hoàng Ngọc An- Bà Hà Giang (báo NV) và loạt bài về vụ kiện Cựu TNCT Đỗ Văn Phúc

Nguyễn thị Bé Bảy – Phân Nửa Sự Thật Trong Bài Viết Của Kư Giả Hà Giang Báo Người Việt

Duyên-Lăng Hà Tiến Nhất – Giống như chàng nghệ sĩ đi t́m lá diêu bông

Nguyễn Kinh Luân -Vài suy nghĩ về bài viết của bà Hà Giang [Chụp mũ CS- Những vụ án và tinh thần "McCarthy']

Hoàng Ngọc An – Nh́n lại các dữ kiện cuả vụ án Nancy Bùi kiện Đỗ Văn Phúc trong 3 năm qua

 

 

Khúc Minh Thơ và chương tŕnh HO:

 

Khúc Minh Thơ, một người phụ nữ lẽ ra đă được nhiều cảm t́nh nếu bà biết dừng lại đúng lúc. Bà không biết dừng có lẽ không hẳn là lỗi ở bà. Lỗi ở ai? Ở những “con buôn chữ nghĩa”! Họ lợi dụng bà, lợi dụng h́nh ảnh một phụ nữ miền Nam, (đă có một số vận động về “chương tŕnh HO”), để lôi kéo Bà vào những hoạt động tư lợi.

Năm 2008, Bà đă bị “mổ xẻ” cặn kẽ bởi nhiều người về một chương tŕnh bị gọi lầm với cái tên là “Chương tŕnh H.O”. Nhiều tài liệu, bài phỏng vấn được đưa ra. “Lố bịch” nhất là một bài phỏng vấn GS Nguyễn Ngọc Bích của Huy Phương sau khi bà KMT bị đưa lên bàn mổ xẻ. Đây là điều lố bịch: Ông Bích phát biểu rằng vào ngày 30/4/1987, Ông và bà KMT đă gặp gỡ 2 vị TNS tại một buổi tiếp tân ở Quốc Hội, và nhờ vào câu nói “nịnh khéo” của MC Nguyễn Ngọc Bích mà ngay ngày hôm sau 1/5/1987, họ bảo các phụ tá ngồi viết dự thảo HO! ( Phụ Lục 1).

Bài phỏng vấn ông Robert Funseth, phụ tá Ngoại Trưởng (người giữ vai tṛ quan trọng của cái gọi là chương tŕnh HO) thực hiện bởi Đài Á Châu Tự Do cũng được khui lại. Tóm tắt qua những điều mà cả đôi bên trưng ra tại các diễn đàn internet th́ điều đúng đắn nhất phải được hiểu là:

Chương tŕnh ( bị gọi lầm là H.O) là một chương tŕnh nằm trong kế sách quốc gia của chính phủ Hoa Kỳ. Chương tŕnh này đă manh nha từ lâu (1982) và bà KMT chỉ là người có công đóng góp thêm vào chứ Bà hoàn toàn không phải là “mẹ đẻ” của chương tŕnh này. Các cựu quân nhân cần hiểu điều đó để biết ơn đúng lúc, đúng chỗ, đúng người và đúng công trạng!

Dưới đây chúng tôi tóm tắt những điều mà chúng tôi phỏng vấn từ TS Nguyễn Văn Hạnh, Giám Đốc VP Tị nạn của 2 thời TT Bush cha và con.


1. Chương tŕnh HO, tuy rất to lớn và quan trọng, cũng là một phần trong chương tŕnh ODP.
2. Từ năm 1965, đă có các chương tŕnh tị nạn do Quốc Hội HK đề xướng (Immigration and Naturality Act 1952 (Naturality hay Naturalization?)). Đến 1968, Hoa Kỳ tham khảo các protocol (thủ tục) của Liên Hiệp Quốc. Đến 1980, Hoa Kỳ ban hành luật về Định Cư (Refugees Act, 1980) là đạo luật rất quan trọng ấn định thủ tục, tài trợ việc định cư.
3. Từ 1982, Bộ Ngọai Giao HK và CSVN đă tiến hành đàm phán cho chương tŕnh ODP. Đến 1984, mới được kư kết.

4. Việc đề ra chương tŕnh tị nạn là do Hoa Kỳ ư thức trách nhiệm của ḿnh đối với các bạn đồng minh từng chiến đấu cho lư tưởng chung v́ Tự do dân chủ. Chương tŕnh này áp dụng không riêng cho VN mà c̣n các nước đồng minh khác trên thế giới.

5. Các chương tŕnh tị nạn là chính sách chung của nhiều giai đoạn hành pháp và Quốc hội Mỹ chứ không riêng một ai đề ra.

6. Tuy nhiên, với con số 135 ngàn người Việt đến Mỹ ngay sau 1975, đă có nhiều hội đoàn và cá nhân nhiệt tâm đóng góp giúp đỡ vào chương tŕnh để giúp người tị nạn trong một số công tác.

 

Khúc Minh Thơ và ngày hội Cựu Tù nhân chính trị tại Dallas năm 2008:

 

Lư do năm 2008 bà Khúc Minh Thơ bị “mổ xẻ” v́ bà đă tổ chức Ngày Hội cựu tù nhân chính trị tại Dallas và có hành động giống như là “không coi Tổng Hội Cựu TNCT cũng như một số hội đoàn quân nhân ở Dallas” ra ǵ. Sự việc dây dưa đă đưa đến sự kiện Tổng Hội CTNCT ra tuyên cáo gồm 7 nhận định và 6 tuyên bố. Nội dung chính: Bà KMT không chính danh để tổ chức ngày hội cựu tù nhân chính trị; bà KMT sử dụng những người không cùng lập trường với đa số anh em cựu tù; Bà KMT kêu gọi một người trong Gia Đ́nh Mỹ Việt chống cộng 50-50; v́ thế Tổng hội kêu gọi tẩy chay. (Phụ lục 2)

Từ 2008, ṿng hào quang mà một số “con buôn chữ nghĩa” tạo quanh đầu bà Khúc Minh Thơ đă không c̣n chói lọi. Bà đă im lặng và lùi vào dĩ văng.

 

Khúc Minh Thơ với bài viết của Hà Giang (báo Người Việt) và những “vu cáo” cho Cựu TNCT Đỗ Văn Phúc:

Thế nhưng mới đây, tháng 11/2011, bà Khúc Minh Thơ, đă tự ḿnh huỷ hoại chút h́nh ảnh c̣n lại trong tâm trí nhiều người qua việc bà làm nhân chứng trong vụ bà cựu thương gia Nancy Bùi Triều Giang (Giám Đốc CT Khải Hoàn nhập cà phê từ Việt Nam vào khoảng năm 1995) kiện cựu tù nhân chính trị Đỗ Văn Phúc.

Điều đáng tiếc hơn nữa là Bà trả lời phỏng vấn của Hà Giang (báo Người Việt) với những “luận điệu” sai lạc, không c̣n chút ǵ nhân hậu, hiền hoà của một phụ nữ miên Nam.

 

Chứng minh :

Dưới đây chúng tôi đánh số từng câu nói của bà Khúc Minh Thơ khi trả lời bà Hà Giang báo Người Việt:

1,

Tháng Tư năm 2007, bị cáo muốn lên sân khấu cám ơn tôi trong buổi gây quỹ của hội VAHF (tên tiếng Việt là Hội Bảo Tồn Văn Hóa và Lịch Sử) tại Austin . Triều Giang không sắp xếp được v́ quá gần tới ngày, nên bị cáo nổi giận và bắt đầu đánh phá Triều Giang và hội VAHF.” (ngưng trích)

Đây là lời nói của chính bà Nancy Bùi Triều Giang, trong một ghi âm của chúng tôi , chính bà Nancy Bùi Triều Giang cho biết mối “tư thù giữa bà và Đỗ Văn Phúc có từ 1996” ( mối tư thù như thế nào th́ chúng tôi không biết v́ bà Nancy Bùi Triều Giang không nói rơ ) nghĩa là không phải xuất phát từ buổi tiệc 2007 như bà Khúc Minh Thơ “vu cáo” trong đoạn báo trên của Hà Giang.

30 giây: http://thuvientoancau.org/HoangLanChi/ThoiSu/TuThuTu96.mp3

Kết luận: bà Khúc Minh Thơ đă trắng trợn vu cáo cho ông Đỗ Văn Phúc là đánh phá Nancy Bùi Triều Giang v́ không được lên sân khấu để cám ơn KMT trong tiệc gây quỹ của VAHF! Chúng tôi nghĩ rằng nếu c̣n chút lương tâm, liêm sỉ, bà Khúc Minh Thơ cần phải xin lỗi độc giả về sự “ vu cáo” này.

2,

Trích Hà Giang phỏng vấn bà KMT : Rồi bà tự giải thích rằng “nguyên nhân sâu xa” cho việc bị cáo đánh phá Triều Giang chính là bà Minh Thơ đă “chọn Triều Giang” để trao tài liệu của Hội Gia Đ́nh Tù Nhân Chính Trị Việt Nam , “thay v́ chọn bị cáo”.(ngưng trích)

Theo lời bà Nancy Bùi Triều Giang “mối tư thù có từ 1996”, trong khi Hội VAHF thành lập vào khoảng 2004! Trước đó ông Đỗ Văn Phúc chưa hề thân cận với bà th́ làm ǵ có chuyện như trên? Bà KMT đă tưởng tượng vô lư. Sự tưởng tuợng này nhằm mục đích hạ cựu TNCT Đỗ Văn Phúc sau khi vụ kiện kết thúc, cho thấy “lương tâm bà KMT” là ǵ!

3,

Hà Giang phỏng vấn KMT:

“Bị cáo đă nhiều lần nói với tôi và những người khác là Triều Giang không xứng đáng. Để chứng minh điều đó, ông đă bôi nhọ và mạ lỵ Triều Giang.” Bà Khúc Minh Thơ cho Người Việt biết, đă khai với ṭa rằng bà đă “liên lạc với bị cáo và yêu cầu ngưng. Bị cáo ra điều kiện là bắt tôi phải truất phế Triều Giang. Tôi có hứa là sẽ xem xét lại vấn đề xem có đúng hay không? Nếu đúng th́ chúng tôi sẽ có biện pháp.”

Tuy nhiên, cũng theo bà Khúc Minh Thơ th́ sau đó hội đă họp “yêu cầu Triều Giang trả lời từng điểm tố cáo của bị cáo” và “Triều Giang đă trả lời với những bằng chứng rơ ràng, và hội đồng cố vấn và điều hành sau đó đă thảo luận và kết luận Triều Giang đă bị vu cáo với ác ư. Cả hai hội đồng quyết định tiếp tục ủng hộ và yêu cầu Triều Giang tiếp tục điều hành hội.” (ngưng trích)

Năm 2004 là khoảng năm hội VAHF của bà KMT và Nancy Bùi Triều Giang ra đời.

Năm 2008 khi bà Khúc Minh Thơ tổ chức ngày hội cựu tù nhân tại Dallas, ông Đỗ Văn Phúc đă gửi mail khuyến cáo Bà KMT về Nancy Bùi Triều Giang và dưới đây là những bằng chứng năm đó bà trả lời ô Đỗ Văn Phúc. Bà KMT đă viết một điều vô lư mà chúng tôi không hiểu v́ sao bà Hà Giang vẫn nhắm mắt tin theo. Đó là ông Đỗ Văn Phúc ra điều kiện truất phế Nancy Bùi Triều Giang! Đỗ Văn Phúc lúc đó chỉ là quen biết bà KMT và không hề thân cận với bà KMT bằng bà Nancy Bùi Triều Giang! Trên cương vị người cùng chiến tuyến, ông Đỗ Văn Phúc chỉ gửi mail nhắc nhở bà KMT về con người bà Nancy Bùi Triều Giang.

Dưới đây là bằng cớ năm 2008, bà KMT trả lời ông Đỗ Văn Phúc, trong đó bà chỉ mới gặp ông Đỗ Văn Phúc ngày 9/9/2008!

Thư thứ Nhất của bà KMT (28 tháng 2, 2008):

Thursday, February 28, 2008 10:42 PM

From: "Fvppa@aol.com" <Fvppa@aol.com>

To:md46usa@yahoo.com

Anh Phuc men,

Toi rat muon noi chuyen voi anh, toi cung da noi voi Trieu Giang rat nhieu va toi rat buon nhung su viec xay ra nhu vay. Toi biet anh luon quy men toi nhung khong ngo Vinh viet email cho chu nhu vay. Nhu toi noi chu trua nay la toi rat thong cam nhung su nhuc ma khong nhung chu ma ca QLVNCH cua chung ta. Toi co noi voi Trieu Giang va toi cung se noi voi Vinh la " Chong toi" da bo minh vi chien tran VN nhung giong mau cua nhung nguoi tu si cua the he truoc da hy sinh vi to quoc la vo ich sao , bo lai vo dai con tho ma su hy sinh do khong xung dang thua "friendly hand" cua Vinh ... Toi muon noi chuyen voi chu . Toi cung buon lam vi nhung thanh vien cua Hoi BTLSVHNMGV co nhung su khong te nhi, chu cho chung toi thoi gian de chung toi ngoi lai giai quyet chuyen noi bo. That su Vinh cung con tre , toi biet toi se noi ro voi Vinh duoc.

Men, Tho

Thư thứ hai (14 tháng 5, 2008)

Wednesday, May 14, 2008 5:31 PM

Chu Phuc men,

Toi rat ngac nhien khi doc email cua chu duoc biet khi toi den tham gia dinh chu , toi noi "viec cua Trieu Giang va chu la ca nhan" neu nhu toi noi vay thi toi dau co phai noi voi chu va tat ca moi nguoi len tieng ve viec lam cua Trieu Giang va Vinh la toi xin cho toi co thoi gio giaiquyet noi bo sau khi buoi vinh danh . Toi cung co noi voi chu chuyen dum toi den moi nguoi la cho toi se tra loi ro rang sau buoi hop cua Hoi. Vi neu toi cho do la viec ca nhan cua Trieu Giang va chu , thi toi dau co quyen gi ma xen vo ma giai quyet cho duoc, nhu chu cung co noi voi toi va chu hua voi toi la se khong bao gio lam gi de ton hai den Hoi Bao Ton LS va VH Nguoi My goc Viet het va chu con noi la chu con muon "promote" Hoi nua , toi rat cam dong vi Hoi do la tam huyet cua chung toi.

Cho nen nay toi moi hoi them chu cho day du chi tiet de toi dua roi buoi hop vi moi lan hop noi bo nhu vay rat la kho vi moi nguoi o moi noi, hon nua nam nay toi co qua nhieu chuong trinh ma toi phai lam, nhung toi hua voi chu va quy vi trong cac Hoi Doan va Cong Dong nen toi phai lam dung loi toi hua cua toi thoi.

Doi voi cac anh em TN va HO chung ta la dai gia dinh , rieng voi gia dinh chu thiem va cac chau lau nay du chua lan nao gap mat , chi co hom gap chu o Cali ngay 9/9/08 toi moi gap duoc gap chu thi toi cang quy men hon trong tinh chi em voi nhau cho nen toi moi goi chu bang "chu Phuc", toi luon lay tinh thuong va long chan chinh de doi xu voi nhau thoi deu do toi da lam tu hon 30 nam nay vi do moi la ton tai . Neu nhu toi co noi khong ro rang de lam chu that vong thi toi xin loi chu vay.

Than men,

Tho

(ngưng trích thơ bà KMT viết cho Đỗ Văn Phúc năm 2008)

4,

Trích KMT : Bà cho biết cuối cùng cũng trở thành nạn nhân của ông Phúc:

“Khi tôi quyết định ra làm chứng cho Triều Giang, th́ bị cáo cho người hăm dọa tôi và bị cáo tiếp tục chửi bới tôi thậm tệ trên website của ông ta. Một số người trong cộng đồng thấy chuyện không đúng, lên tiếng cho lẽ phải, bị cáo đánh phá họ thẳng tay, dù người đó từng là đồng đội, đồng môn, người ơn, và ngay cả thầy dạy học.”(ngưng trích)

Xin bà KMT dẫn chứng:

- Ông Đỗ Văn Phúc cho người hăm doạ bà?

- Ông Đỗ Văn Phúc chửi bới bà thậm tệ trên web site của ông ta?

- Đánh phá kẻ nào là thầy dậy học? ( Gọi Huy Phương là Thầy không có nghĩa là học với HP!)

- Đánh phá kẻ nào là đồng môn?

Nếu bà không cung cấp được bằng cớ, thiết tưởng một lời xin lỗi không phải là quá muộn cho cả bà và báo Người Việt.

Kết thúc bài này, chúng tôi xin dành phần nhận định cho quư độc giả sau khi chúng tôi tŕnh bầy các dữ kiện với đầy đủ bằng cớ.

Bà Khúc Minh Thơ đă có hành động ǵ, bà Hà Giang báo Người Việt đă viết phóng sự theo kiểu ǵ, xin đặt câu trả lời vào tay quư độc giả! Xin nhắc lại, có lẽ không thừa, báo NV với 2 vụ nổi bật là (tử vi Nhân Quang và 2 năm sau là vụ cờ vàng trong chậu rửa chân).

Báo Người Việt viết “ chụp mũ đụng độ luật pháp” và chúng tôi tự hỏi, những “vu cáo” trên đây của bà Khúc Minh Thơ đối với cựu TNCT Đỗ Văn Phúc và được bà Hà Giang đăng tải, toà án nào đây phán xét? Toà án Hoa Kỳ hay toà án lương tâm?

Hoàng Ngọc An (11/2011)

=============================================================

Phụ lục 1 : Trích một số câu tiêu biểu trong bài phỏng vấn GS Nguyễn Ngọc Bích của Huy Phương (năm 2008)

Nhận xét của chúng tôi: GS nguyễn Ngọc Bích nói một câu rất “ngây ngô”, đó là nhờ GS Bích có một câu nịnh khéo 2 ông Thuợng Nghị Sĩ mà ngay hôm sau họ kêu phụ tá của họ viết dự thảo “Chương Tŕnh HO”! Thưa quư vị, có thể nào tin rằng, 1 chương tŕnh quy mô lớn, tổn phí bao tiền của mà lại là kết quả của một câu nói nịnh của ô Nguyễn Ngọc Bích? Qua bài này ô Bích cũng phải công nhận là bà KMT chỉ có công đóng góp chứ không phải là mẹ đẻ “HO”!

Trích Nguyễn Ngọc Bích:

Măi cho đến tận đến giữa thập niên 1980, khoảng 1985 th́ lúc bấy giờ phong trào gọi là kêu gọi cứu giúp những người tù nhân chính trị bị đi học tập cải tạo mới đặt ra. Trong bộ ngoại giao có ông đại sứ Robert Funseth mà anh Nguyễn Khanh của đài Á Châu Tự Do cũng có dịp phỏng vấn gần đây. Ông Funseth đang làm trong Bộ Ngoại Giao, ông này theo đạo Công Giáo và có một tấm ḷng từ bi cũng khá rộng. Ông lo lắng về chuyện này và t́m cách vận động với phiá Cộng Sản. Đă có đôi ba lần ông gặp những đại diện của Cộng Sản lúc bấy giờ trên đất Mỹ. Lúc bấy giờ chỉ có Trịnh Xuân Lăng đại diện cho Việt Nam quan sát ở trong Liên Hiệp Quốc; cũng có lần ông Trịnh Quang Cơ sang bên này để t́m cách tái lập bang giao với Mỹ th́ ông ấy cũng có tiếp xúc và nói chuyện. Trong những lần gặp đó, ông Funseth đă nêu ra vấn đề tù nhân chính trị đang bị giam giữ, nhưng cũng phải nói thẳng thắng rằng măi cho đến tận khi ông Reagan lên cầm quyền, lúc bấy giờ mới chỉ định cho tướng John Vessey làm đặc sứ của Tổng Thống sang Việt Nam đặt trực tiếp vấn đề đưa tù nhân chính trị sang Mỹ. Sở dĩ tôi nhắc đến chuyện này là v́ lúc đó tôi ở trong Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ và bà Khúc Minh Thơ là người rất có ḷng nên cũng kêu gọi Nghị Hội nếu có cơ hội hăy tiếp tay nhau.

Vào ngày 30/4/1987 chúng tôi cùng bà Khúc Minh Thơ, tức là Nghị Hội với Hội Gia Đ́nh Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tổ chức một buổi tiếp tân ở trên Quốc Hội. Buổi tiếp tân này vừa đánh dấu ngày 30/4 đau buồn của đất nước, vừa đưa vấn đề Việt Nam cho Quốc Hội họ nghe. Dịp may trong buổi tiếp tân đó là có sự hiện diện của hai vị Thượng Nghị Sĩ quan trọng là ông Bob Dole và Edward Kennedy bên cạnh vài ba TNS cùng với cả chục Dân Biểu khác . Quan trọng nhất là hai vị Thượng Nghị Sĩ trên, v́ trong những năm đó người ta bàn luận cả hai ông đó đều có cơ hội ra ứng cử Tổng Thống Hoa Kỳ. Buổi tiếp tân tại Quốc Hội hôm đó chúng tôi (NNB) làm MC, khi chúng tôi giới thiệu hai vị TNS này th́ chúng tôi cũng dùng một câu rất được ḷng hai ông ấy, mặc dù hai ông chưa chính thức đứng ra tuyên bố ứng cử tổng thống nhưng trên báo chí đă nói nhiều lắm. Khi giới thiệu, chúng tôi giới thiệu rằng hai vị đây là hai vị ứng cử viên tương lai có thể làm Tổng Thống, một bên là Cộng Hoà, một bên là Dân Chủ, cả hai vị đều hài ḷng nên có hứa rằng là họ sẽ tiếp tay với chúng tôi làm chuyện can thiệp cho các tù nhân chính trị đang bị giam giữ.


Họ giữ lời hứa
, ngay ngày hôm sau 1/5/1987 họ bảo các phụ tá của họ ngồi lại với nhau viết ra cái dự luật sau này gọi là dự luật H.O. Chúng tôi đă đi theo từ giai đoạn đầu tiên, từ lúc thành dự luật, rồi nó đi qua rất nhiều chặng trong Quốc Hội. Chúng tôi thường xuyên lên Quốc Hội gơ cửa, không chỉ riêng hai ông Bob Dole hay Edward Kennedy mà c̣n nhiều vị Thượng Nghị Sĩ , Dân Biểu khác. Chúng tôi c̣n mang theo rất đầy đủ hồ sơ, trong đó bà Khúc MinhThơ và Gia Đ́nh Tù Nhân Chính Trị Việt Nam cũng có hồ sơ rất đầy đủ, mà chúng ta có thể kiểm chứng ở Trung Tâm Việt Nam tại Đại Học Texas ở Lubbock, tại đó Hội Tù Nhân Chính Trị Việt Nam đă chuyển lại cho Trung Tâm Việt Nam tất cả là 12,000 hồ sơ của cựu tù nhân và tổng cộng là 200.000 trang giấy.

Phụ lục 2: 1 netter trả lời từng điểm thư của Bà Khúc Minh Thơ gửi Tổng Hội CTNCT sau khi bà bị Tổng Hội ra tuyên cáo tẩy chay (năm 2008):

 

Trích thơ bà Khúc Minh Thơ gửi Tổng Hội CTNCT ( 2008), phần trả lời “point to point” mầu xanh blue của một netter không nhớ tên :

Phân trần và cáo lỗi

(Một cái tóc là một cái tội )

Khúc Minh Thơ

Kính gởi Ông Nguyễn Trung Châu

Chủ tịch Tổng hội Cựu tù nhân chính trị Việt Nam

Địa chỉ: 62 W. King Bridge Rd. Bronx

NY 10408 - U.S.A

Đồng kính gởi:

Quư vị Chủ tịch Khu hội và quư vị trong Hội đồng

quản trị, giám sát, tư vấn, quư niên trưởng tù chính trị cao niên.

Kính thưa quư vị,

Chúng tôi nhận được bản tuyên bố của ông chủ tịch Nguyễn Trung Châu nhân danh Tổng hội. Bản tuyên bố hết sức nặng nề lên án cá nhân tôi và ban tổ chức họp mặt cựu tù chính trị và gia đ́nh tại Dallas đầu tháng 10 năm 2008.

Chúng tôi nghĩ rằng đây không phải là ư kiến riêng của ông chủ tịch mà có thể coi như nhân danh 37 khu hội toàn thế giới với 19 năm hoạt động. Những lời lẽ buộc tội chúng tôi, do một tổ chức lớn lao danh tiếng của ông chủ tịch với nhiều lư do quan trọng làm chúng tôi hết sức quan tâm và e ngại.

Tuy nhiên, việc phân trần sau đây xin đưa ra với tư cách cá nhân. Hội gia đ́nh tù nhân chính trị do tôi trách nhiệm cũng có thể có những ư kiến khác. Chúng tôi không dám mạo muội nhân danh tất cả các anh chị em. Lời phân trần và cáo lỗi sau đây là của cá nhân Khúc Minh Thơ mà thôi.

Thứ nhất: Quư vị nhận định rằng Bà Khúc Minh Thơ không phải là cựu tù nhân chính trị nên làm Trưởng ban tổ chức ngày hội ngộ cựu tù nhân chính trị là không chính danh và trái lẽ.

Chúng tôi đồng ư, Khúc Minh Thơ chưa bao giờ là cựu tù nhân chính trị. Đứng ra làm Trưởng ban tổ chức là sai, theo ư quư vị. Vậy Hội Gia đ́nh Tù Nhân Chính Trị Việt Nam có thể đứng ra tổ chúc cuộc Họp Mặt của Tù Nhân Chính Trị hay không? Nếu câu trả lời vẫn là không th́ xin cáo lỗi và xin quư vị vui ḷng chấp nhận làm ngơ cho chúng tôi tiếp tục hoàn tất kỳ này.

Trả lời bà Khúc Minh Thơ : “Hội gia đ́nh” không tồn tại và theo thiển ư, cho dù tồn tại th́ cũng không chính danh. Bà hẳn biết, trước 75, quân đội khác với gia binh. Hội gia binh không thể nhân danh (vợ con) quân nhân để tổ chức các ngày hội họp cho các quân nhân. Thứ hai: Bà Khúc Minh Thơ đă tuyên bố giải tán Hội, nay c̣n tiếp tục làm, là không hợp t́nh, không hợp lư.

Xin xác nhận là quư vị từ bên ngoài nhận xét về hội chúng tôi rất đúng. Giữa chị em có lúc ốm đau, mệt nhọc nên đă tính nghỉ. Nhưng việc của hội vẫn c̣n, chị em lại tín nhiệm yêu cầu tiếp tục, nên xin quư vị tha thứ cho Hội Gia Đ́nh Tù Nhân Chính Trị đă c̣n cố gắng tiếp tục cho đến nay.

Trả lời bà Khúc Minh Thơ : Bà đă long trong làm lễ giải tán hội. Từ đó đến nay, những công việc nào ( ích cho tù, lợi cho gia đ́nh tù) vẫn được duy tŕ và nhân danh hội? Là một công dân Hoa Kỳ trên 30 năm, sự việc trái pháp luật là cho một mồ ma sống dậy, có ẩn ư ǵ trong khi bà tự cho tuổi già sức yếu?

Thứ ba: Bà Khúc Minh Thơ không phải là người khởi xướng việc đấu tranh cho tù chính trị. Chính ông Robert Funseth là người làm công việc này và ông là ân nhân của tù chính trị.

Xin thưa quư vị có lẽ năm 1975 sau khi Cộng sản bắt tập trung cải tạo, th́ chắc hẳn có nhiều người khác cùng đứng lên cùng t́m cách đấu tranh. Chúng không được biết là ai. Nhưng riêng phần chúng tôi tại thủ đô Hoa Kỳ khi tiếp xúc với chính quyền và các dân biểu th́ ông Funseth cho rằng chúng tôi là người đầu tiên. Tôi rất hănh diện cùng chị em đứng lên trong những bước đầu. Nhưng nay quư vị nói là không phải. Ông Funseth mới là đại ân nhân. Chúng tôi xin hoàn toàn đồng ư.Chúng tôi cũng đă nghe thấy quư vị than phiền chính người Mỹ bỏ Việt Nam và nay xác định chính người Mỹ cứu tù nhân. Dạ thưa đúng vậy, ở đây th́ cái ǵ cũng là người Mỹ hết. Mục đích Hội chúng tôi là xin cho chồng con được tự do, chồng con được tự do rồi th́ c̣n công trạng ǵ nữa. Xin cáo lỗi, nếu đă có những điều gây hiểu lầm là chúng tôi kể lể công trạng. Xin quư vị trực tiếp liên lạc với ân nhân Funseth để gởi lời tri ân thay cho hội chúng tôi đă làm bao lâu nay.

Khi ông Phụ Tá Funseth đi Việt Nam về, sau khi kư thỏa ước với chính phủ CSVN, được gia đ́nh tù nhân chính trị Việt Nam đón tiếp, đă có nhă ư trao cây viết lịch sử này cho Khúc Minh Thơ, xin hân hạnh nhận cây viết này, như một bổn phận chứ không phải là một công trạng ǵ phải nói ra.

Ông Robert Funseth chỉ là người thừa hành của chính phủ Hoa Kỳ để thuơng thảo với Vc về việc thả tù. Chương tŕnh này có tầm vóc quốc gia v́ cần ngân khỏan lớn. Ông Robert Funseth có công là kiên tŕ và nhiều nỗ lực.

Trả lời bà Khúc Minh Thơ : năm 1989, Hoa Kỳ và VC kư thoả ước. Khi trở về, bà KMT mời ông Funseth đến dự tiệc cảm ơn. Ông Funseth tặng bà cây viết, th́ nó có ư nghĩa ǵ? Mặt khác, dường như lịch sử Hoa Kỳ không hề chính thức ghi nhận sự vận động của Hội Gia Đ́nh trong chương tŕnh lớn lao này?

Thứ tư: Bà Khúc Minh Thơ không có tinh thần chống Cộng, chao đảo, nửa quốc gia, nửa cộng sản.

Xin quư vị vui ḷng bỏ cho chúng tôi cái tội "phân nửa cộng sản". Chúng tôi là người quốc gia tỵ nạn cộng sản. Có chồng hy sinh cho quốc gia, có chồng con ở tù cộng sản. Duy có điều sau đây phải thành thực ghi nhận. Là một phụ nữ, là hội của gia đ́nh cựu tù nhân chính trị, chúng tôi không thể nào theo kịp quư về tinh thần chống cộng quyết liệt ngày đêm. Do đó hội gia đ́nh tù không thể có hoàn cảnh dành 100 % ngày giờ theo quư ông. Chúng tôi là gia đ́nh, là vợ con của quư vị, chúng tôi cũng không có được sự dũng cảm, tinh thần mạnh mẽ và nghị lực phi thường như các bậc trượng phu.

Xin hăy nh́n chúng tôi bằng đôi mắt bao dung như các chiến sĩ nh́n về vợ con quư vị. Quư vị là những người kiên định, quyết liệt, không thể nói chuyện với Cộng sản. Nhưng chúng tôi là vợ con, là gia đ́nh quư vị, khi quư vị bị tù đày, chúng tôi không ngần ngại phải gặp thẳng các viên chức Cộng sản tại Liên Hiệp Quốc để xin trả tự do cho chồng con.

Bây giờ những phụ nữ đấu tranh ngày xưa, nay đă già lăo, yếu đuối. V́ vậy nên Khúc Minh Thơ xin chân thành cáo lỗi v́ tinh thần chống Cộng không theo kịp quư vị. Nhưng dù bất cứ ở hoàn cảnh nào th́ quư vị cũng không được phép gán cho chúng tôi một nửa cộng sản. Ba mươi năm trước c̣n không theo Cộng sản để xin cho chồng con được tự do, ngày nay chồng con đă được tự do th́ c̣n theo Cộng sản làm ǵ. Xin quư vị vui ḷng nghĩ lại. Hăy đi tới, chiến đấu như những người anh hùng. Xin đừng quay lại phía sau để chụp mũ Cộng sản cho cả gia đ́nh và vợ con quư vị.

Trả lời bà Khúc Minh Thơ: Xin bà giải thích thẳng vào vấn đề: Bà có khuyên các người lai Mỹ Việt chỉ nên chống cộng 50-50? Nếu Có, hăy cho biết bà có chủ trương đối thọai với VC không? Xin đừng gán nguợc lại cho người khác cái tội “chụp mũ cộng sản cho bà”. Tổng hội chỉ nhận định trên dữ kiện thực tế là câu tuyên bố của bà

Thứ năm: Quư vị lên án các thành viên của Ban tổ chức, người th́ không chống cộng, người th́ không đi tù.

Xin chân thành cáo lỗi một lần nữa. Tất cả lỗi lầm là do cá nhân chúng tôi chịu trách nhiệm. Các anh chị em khác đều là người t́nh nguyện, v́ thương Hội gia đ́nh cựu tù nhân chính trị mà làm việc.

Xin quư vị nhận lời cáo lỗi của tôi mà tha cho họ. Chúng tôi chỉ họp mặt trong t́nh thân hữu với các anh em tù chính trị và vợ con trong bầu không khí gia đ́nh. V́ vậy không thể phân biệt đại hội chỉ dành cho những người tù chính trị.

Trả lời bà Khúc Minh Thơ : Ngày hội tù nhân chính trị được hiểu rộng răi là sự họp mặt của các cựu tù nhất là cựu quân nhân bị VC giam giữ. Chữ nghĩa Việt Nam ở đây rất rơ ràng và ai cũng hiểu là ǵ.

Riêng phần Ban tổ chức cần người liên lạc, âm thanh, ánh sáng, dựng sân khấu, làm văn nghệ. Nếu toàn là anh em tù chính trị với tinh thần chống cộng quyết liệt th́ ai là người chuyên môn. V́ vậy xin quư vị nghĩ lại làm ngơ một lần cho hội gia đ́nh được tổ chức như là một văn nghệ ở vườn sau.

Trả lời bà Khúc Minh Thơ : Ban Tổ Chức (cấp 1) khác những người thừa hành (cấp 2, 3 hoặc 4). Bà đă cố ư sử dụng sai lệch chữ nghĩa.

Thứ sáu: Quư vị lại buộc tội chúng tôi không cộng tác với Tổng hội và khu hội địa phương.

Xin quư vị nghĩ lại, bao nhiêu năm qua, quư vị đă tổ chức những lần đại hội với tinh thần sắt thép và với quan niệm rất chặt chẽ về đường lối. Chúng tôi là đàn bà, trẻ con làm sao phù hợp với khung cảnh và phương pháp rất kỷ luật của quư ông. V́ vậy đă bao lần Khúc Minh Thơ xin mời Tổng hội yểm trợ tinh thần. Nhưng quư vị có cả tổ chức lớn lao và trách nhiệm cao cả nên phải bàn tính và ngần ngại. Chỉ riêng về h́nh thức không đồng ư, nội dung cũng không đồng ư, thành phần ban tổ chức cũng không đồng ư, rồi danh xưng tổ chức cũng không đồng ư. Làm sao mà hợp tác được.

Thôi đành xin phép để chị em làm lấy một ḿnh với muôn vàn lời cáo lỗi.

Trả lời: Khi Tổng hội đề nghị mời Khu Hội Dallas, Bà đă trả lời “Nếu mời Khu hội Dallas th́ nhiều người không tham gia”, xin bà trả lời chính xác, bà Có nói như vậy hay Không?

Quyền tổ chức là ở bà, Tổng hội thông báo cho ṭan thể cựu tù biết nhận định của Tổng Hội sau khi đúc kết ư kiến từ đa số khu hội. Nhận định và thông báo của Tổng hội chỉ hiệu lực với các cựu tù trong tổng hội và không hiệu lực với cá nhân Bà hay Ban Tổ Chức của Bà. Lời cáo lỗi ở đây là dư thừa.

Thứ bảy: Đôi lời tâm sự

Với hơn 30 năm đấu tranh cho hội gia đ́nh cựu tù nhân chính trị, chưa bao giờ Khúc Minh Thơ, năm nay hơn 70 tuổi lại nghĩ rằng sẽ bị lên án bởi chính Tổng hội cựu tù nhân chính trị. Quư vị làm như vậy thật bẽ bàng cho cả hai tổ chức. Trong số quư vị có nhiều niên trưởng lớn tuổi hơn Khúc Minh Thơ. Xin nghĩ đến thân phận một phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh. Có chồng chết trận, có chồng ở tù, oan nghiệt cũng đủ một đời. V́ tranh đấu nên có dịp diện kiến Tổng thống Reagan, được quốc hội Hoa kỳ tuyên dương. Danh vọng và may mắn cũng đă có đủ. Đứng ra tổ chức lần này chỉ v́ thấy cần phải làm th́ làm. Không hề đi t́m thêm danh tiếng. Không hề muốn t́m thêm những vất vả khó khăn.

Nay cả tập thể lên án, biết lỗi của ḿnh là nỗ lực quá nhiều chứ không có tội t́nh ǵ cả. Quê đất Sa Giang, miền Nam . Ăn ngay nói thật, đă làm mất ḷng các niên trưởng. Là thân phận nữ nhi lại không khéo cư xử với quư vị mong thương t́nh thứ lỗi.

Xin quư vị lấy bụng dạ quân tử mà bỏ qua cho chúng tôi.

Quư vị là những người tù chính trị Việt Nam , đă trải qua bao trầm luân gian khổ trong ngục tù cộng sản. Quư vị là thân nhân chúng tôi. Quư vị là lẽ sống c̣n, là ư nghĩa của con đường đấu tranh của Hội gia đ́nh cựu tù nhân chính trị. Xin mở rộng tấm ḷng bao dung đối một tổ chức phản ảnh chính gia đ́nh của quư vị. Trong những năm đi xin tự do cho chồng con.Vũ khí của người vợ Việt Nam chỉ là nước mắt. Nước mắt vợ tù đă chảy giữa nghị tŕnh Quốc hội Hoa kỳ. Nếu có chút công trạng th́ chỉ là tiếng khóc của vợ con.

Bây giờ cả chinh phu lẫn chinh phụ đă đến gần ngày lắng nghe chuông gọi hồn ai.

Xin được dành nước mắt đàn bà cho những giây phút cuối cùng.

Đừng bắt tội nhau nữa.

Trả lời: Khi Bà tổ chức ngày hội cựu tù nhân tại Dallas và cuơng quyết mời những người (từng buôn bán với VC, tổ chức dạ tiệc vào ngày quốc hận, không chào cờ trong ngày hội của Chiến tranh Chính trị) vào Ban Tổ Chức, bỏ qua mọi khuyến cáo của các quân nhân th́ ai là người nhỏ nước mắt, Bà hay các cựu quân nhân? Khi Bà khuyên người lai Mỹ Việt chống cộng 50-50 th́ bà khóc hay chúng tôi khóc?

Thứ tám: Trả lời một câu hỏi.

Thật may mắn là Tổng hội không trực tiếp đặt câu hỏi, nhưng có quư vị đă hỏi rằng Bà Khúc Minh Thơ lấy tiền đâu mà tổ chức lớn lao như vậy?. Nhiều vị cũng tán thành câu hỏi. Hỏi tức là có tính cách ám chỉ: Tiền Việt Cộng.

Ngày xưa ở Việt Nam , khi người tù binh trở về có ai hỏi là em lấy tiền đâu nuôi con, tiền đâu tiếp tế, tiền đâu cho con vượt biên.

Qua đến Hoa kỳ, có ai hỏi Hội gia đ́nh lấy tiền đâu mà tranh đấu.

Không lẽ câu trả lời là: Tiền Việt Cộng?

Quư vị có biết rằng đặt vấn đề như thế là sát muối trong ḷng.

Trả lời: Thưa bà, tiền nuôi con, tiếp tế, vượt biên là phạm trù khác nhau cho mỗi ḥan cảnh. C̣n tiền đâu để tổ chức 3 ngày hội lớn, chi phí nhiều mà chỉ thu 25 Mỹ kim trong khi cá nhân bà, từng từ chối tham gia văn nghệ gây quỹ giúp thuơng phế binh?

Thứ chín: Lời cuối xin hỏi các niên trưởng và xin hỏi ông Trời.

Ngày xưa, các anh ra đi chiến đấu, tinh thần mạnh mẽ, tấm ḷng hào sảng, thương vợ, thương con, không để tâm đến những chuyện nhỏ nhặt, không nghi ngờ sự thủy chung, chân thật của người ở lại. Các anh mong ước vợ con ở nhà phải mạnh mẽ, bền bỉ, kiên tŕ, vượt qua mọi thử thách khó khăn.

Ngày nay tuy tóc bạc, da mồi, nhưng người phụ nữ Việt Nam vẫn c̣n đây. Những người chiến binh dũng cảm nhưng cũng hết sức hào hoa mă thượng của chúng tôi, bây giờ các anh ở đâu?

Xin hăy đến với chúng tôi với tấm ḷng mở rộng. Bây giờ quư vị cũng là một người như mọi người. Ngồi bên gia đ́nh và giữ cho tâm hồn b́nh yên ít nhất một lần.

Bằng tât cả tâm thành, chúng tôi mong mỏi trong năm tới, Tổng Hội với đầy đủ uy tín và chính danh sẽ đứng ra tổ chức một cuộc Hội Ngô quy mô, lớn lao với sự tham dự của 37 Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị ở Hoa kỳ cũng như hải ngoại, để anh chị em cựu tù nhân có cơ hội gặp gỡ nhau một lần nữa. Xin chúc mọi điều tốt lành và b́nh an.

Trả lời: Thưa bà, chuyện một ê kíp Ban Tổ Chức ( không sát cánh với cộng đồng hay quân nhân địa phương) tổ chức ngày hội lợi dụng danh nghĩa cưu tù mưu đồ cá nhân, không phải là chuyện nhỏ nhặt mà là đại sự, chuyện của lằn ranh Quốc Cộng!

Chúng tôi những người lính khi đến Hoa Kỳ với tuổi đời xấp xỉ 50, 60, với sức khỏe bị Vc làm cho hao ṃn, không thể có đủ tiền để tổ chức một ngày hội 3 ngày với giá vé 30 Mỹ kim như bà. Xin bà để dành những lời “thách đố” đó cho người khác, c̣n với Bà, hiển nhiên dư luận phải đánh dấu hỏi về chi phí quá lớn và vé chỉ 30 MK?

Thưa bà, bà viết thư với giọng giận lẫy của một người già kiêm cả nói móc, xỏ xiên.

Chúng tôi những người lính (chỉ thua bà mươi tuổi, ngang hay hơn tuổi bà) vẫn c̣n nhiều nhiệm vụ trước mắt cho dù đa số vẫn phải bương chải kiếm sống. Chúng tôi cũng xin gửi đến bà lời thỉnh nguyện của chúng tôi: Tiền tuyến luôn được yểm trợ bởi hậu phương. Nếu hậu phương phản bội, tiền tuyến sẽ phải gánh vác trách nhiệm nặng nề hơn.

Xin bà hăy yên nghỉ tuổi già và chúng tôi, những người lính Việt Nam Cộng Ḥa hứa sẽ không công bố trước công luận những điều khác về cá nhân bà liên quan đến lằn ranh quốc cộng.

========================================================

Phụ lục 3: chương tŕnh H.O và bà Khúc Minh Thơ

Một số tài liệu cũ được lưu ở đây:

Bà Khúc Minh Thơ và ngày hội CTNCT năm 2008

 

 

Đỗ Ngọc Uyển – Dự luật HO cuả ông Nguyễn Ngọc Bích và bà Khúc Minh Thơ ???..

Posted on by chungtoimuontudo

Description: http://trachnhiemonline.com/damnatcoVC.jpgLịch sử sẽ ghi nhận những hy sinh xương máu của họ và không ai đươc phép lợi dụng danh nghĩa anh hùng của họ cho những ư đồ bất chính.-

 

Đỗ Ngọc Uyển

 

Lời nói đầu: Ngày 23/9/2008, trên trang báo điện tử Ánh Dương có đăng bà́ của ông Huy Phương phỏng vấn ông giáo sư Nguyễn Ngọc Bích: về hoạt động của Bà Khúc Minh Thơ và Hội Gia đ́nh Tù Nhân Chính trị cho chương tŕnh H.O.” Trên Người Việt Online, ngày 1/11/2008, ông Huy Phương đă viết bài “Tạp ghi Huy Phương: Chút ơn nghĩa cuối đời.” để trách cứ những người tù chính trị Việt Nam đă vô ơn đối với bà Khúc Minh Thơ. V́ nhận thấy có những điều trả lời của ông Nguyễn Ngọc Bích không đúng sự thật và lời trách cứ của ông Huy Phương là hồ đồ. Với tư cách một người lính và cựu tù chính trị, tôi viết bài này để tŕnh bày những sự thật về sự kiện người tù chính trị Việt Nam, một sự kiện mang dấu ấn lịch sử.

1- Trong bài phỏng vấn ông Nguyễn Ngọc Bích “về hoạt động của Bà Khúc Minh Thơ và Hội Gia đ́nh Tù Nhân Chính trị Việt Nam cho chương tŕnh H.O.” do ông Huy Phương thực hiện và được đăng lại trên trang báo điện tử Ánh Dương ngày 23/9/2008, có một đoạn ông Nguyễn Ngọc Bích đă nói nguyên văn như sau:

“…Vào ngày 30-4-1987 chúng tôi cùng bà Khúc Minh Thơ, tức là Nghị Hội với Hội Gia Đ́nh Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tổ chức một buổi tiếp tân ở trên Quốc Hội. Buổi tiếp tân này vừa đánh dấu ngày 30/4 đau buồn của đất nước, vừa đưa vấn đề Việt Nam cho Quốc Hội họ nghe. Dịp may trong buổi tiếp tân đó là có sự hiện diện của hai vị Thượng Nghị Sĩ quan trọng là ông Bob Dole và Edward Kennedy… Buổi tiếp tân tại Quốc Hội hôm đó, chúng tôi (NNB) làm MC, khi chúng tôi giới thiệu hai vị TNS này th́ chúng tôi cũng dùng một câu rất được ḷng hai ông ấy… Khi giới thiệu, chúng tôi đă giới thiệu rằng hai vị đây là hai ứng cử viên tương lai có thể làm tổng thống…. cả hai vị đều hài ḷng nên có hứa rằng là họ sẽ tiếp tay với chúng tôi làm chuyện can thiệp cho các tù nhân chính trị đang bị giam giữ.

Họ giữ lời hứa, ngay ngày hôm sau 1/5/1987, họ bảo các phụ tá của họ ngồi lại với nhau viết ra cái dự luật sau này gọi là dự luật H.O. Chúng tôi đă đi theo từ giai đoạn đầu tiên, từ lúc thành dự luật, rồi nó đi qua nhiều chặng trong Quốc Hội. Chúng tôi thường xuyên lên Quốc Hội gơ cửa, không chỉ riêng hai ông Bob Dole hay Kennedy, mà c̣n nhiều vị Thượng Nghị Sĩ, Dân Biểu khác… ”

Ông giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đă nói không đúng sự thật. Cái mà ông Bích gọi là dự luật H.O ngày 1/5/1987 chỉ là cái Nghị Quyết số S.RES.205 Title: A resolution calling for the release of political prisoners by the government of Vietnam. (Một nghị quyết kêu gọi chính phủ cộng sản Việt Nam thả những người tù chính trị.) Nghị quyết này do 6 Thượng Nghị Sĩ đồng bảo trợ trong đó có hai Thượng Nghị Sĩ Bob Dole và Edward Kennedy.

Không chỉ riêng có Thượng Viện Hoa Kỳ ra nghị quyết kêu gọi cộng sản thả tù chính trị, vào ngày 26/5/1987, tại Hạ Viện Hoa Kỳ, Dân Biểu Bob Dornan cùng 58 Dân Biểu khác cũng đă đồng bảo trợ một Nghị Quyết yêu cầu cộng sản VN thả những tù nhân chính trị ra. Nghị Quyết này mang số H.RES.212 Title: A resolution concerning the release of political prisoners by the government of Vietnam. (Một nghị quyết liên quan đến chính quyền cộng sản thả những người tù chính trị.)

Thực ra, không phải đợi cho đến ngày 1/5/1987 nhờ có ông Bích và bà Thơ vận động với hai ông Thượng Nghị Sĩ Bob Dole và Edward Kennedy nên mới có được cái gọi là Dự Luật H.O. tưởng tượng ra đời để can thiệp cho những người tù chính trị ra khỏi nhà tù cộng sản và đi tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa kỳ đă làm công việc này từ lâu, chậm nhất là từ năm 1982. Cao Uỷ Phủ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc và chính phủ Mỹ đă có những chuẩn bị để tiếp nhận tù chính trị Việt Nam từ tháng 7/1982. Sau đây là bản tin được đăng trên tờ New York Times số ra ngày July 1, 1982.

U.S. and U.N Said to Study Vietnam Resettlement Offer

Special to the New York Times

Published July 1, 1982

A State Department official said today that the Reagan administration was working

with the United Nation High Commission for Refugees “to determine whether the Vietnamese are in fact prepared to release persons from re-education camps for resettlement abroad.” (Hôm nay, một viên chức Bộ Ngoại Giao nói rằng chính quyền Reagan đang làm việc với Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc “để xác định xem Viêt Nam có thực sự chuẩn bị thả những người bị giam cầm trong các trại cải tạo để họ đi định cư tại ngoại quốc hay không.”)

The official estimated that there were about 100,000 people in so-called re-education camps, many of them confined because of their past ties to the United States. (Viên chức này ước tính rằng có khoảng 100,000 người bị giam giữ trong những cái gọi là trại cải tạo, nhiều người trong số họ đă bị giam cầm v́ có những liên hệ chặt chẽ với Hoa Kỷ.)

Nh́n lại thật kỹ những chuyển động chuẩn bị cho việc thả những người tù chính trị để họ đi định cư tỵ nạn tại Mỹ th́ thấy những diễn tiến như sau: Từ đầu thập niên 1980, cộng sản đă bắt đầu di chuyển những người tù từ Bắc vào Nam, những người mà cộng sản đă quyết tâm đưa đi đầy ải để giết chết trong các “trại cải tạo” dă man tại Miền Bắc. Tiếp theo đó, cộng sản cũng bắt đầu lần lượt thả tù ra. Cũng vào khoảng thời gian này, Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan đă bắt đầu nhận đơn xin tỵ nan và cấp LOI (Letter of Introduction) cho những người tù đă được thả ra để chuẩn bị lập hồ sơ xuất cảnh. Kể từ năm 1984 trở đi – nghĩa là 3 năm trước khi có cái Dự Luật H.O. ngày 1/5/1987 tưởng tượng của ông Nguyễn Ngọc Bích và bà Khúc Minh Thơ ra đời - việc gửi đơn sang toà Đại Sứ Mỹ tại Thái Lan để xin đi tỵ nạn là công khai và chính thức; chẳng phải gửi “chui” hay giấu giếm ǵ cả, cứ việc gửi thẳng tại bưu điện Saigon. Vào tháng 10/1989, cộng sản ra thông báo và bắt đầu nhận đơn xin xuất cảnh và cấp phát sổ thông hành (passport) cho người cựu tù đi Hoa Kỳ theo đơn xin. Khi đó, người cựu tù đă có sẵn trong tay cái Giấy Giới Thiệu (LOI/Letter of Introduction) của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan cấp để góp vào hồ sơ xuất cảnh. Cũng vào thời gian đó, Mỹ lập văn pḥng phỏng vấn tại Sàig̣n. Mỗi tháng Hoa Kỳ phỏng vấn và nhận hơn một ngàn gia đ́nh cựu tù chính trị Việt Nam vào Mỹ liên tục trong hơn 4 năm cho tới ngày 3/2/1994, khi những người cựu tù cuối cùng và gia đ́nh bước chân lên máy bay th́ tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố huỷ bỏ cấm vận cộng sản VN và chuẩn bị thiết lập bang giao. Tất cả mọi việc diễn tiến rất có lớp lang, gần như theo một lộ tŕnh đă được thoả hiệp ngầm trước đó.

Như đă nói ở trên, kể từ năm 1984 trở đi, việc gửi đơn sang Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan để xin đi tỵ nạn là công khai và chính thức; nhưng cũng có một số người tù chính trị khi được thả ra đă e ngại, hoặc v́ lư do nào đó đă không gửi đơn qua bưu điện mà t́m cách gửi qua Hoa Kỳ nhờ bạn bè, người thân hay bà Khúc Minh Thơ chuyển tiếp đến toà Đại Sứ Mỹ tại Thái Lan. Đó là “công ơncủa bà Khúc Minh Thơ đối với một số anh em cựu tù nhân chính trị mà ông Nguyễn Thanh Ty đă coi đó là “bát cơm phiếu mẫu.”

Đúng là bà Khúc Minh Thơ và ông Nguyễn Ngọc Bích đă có công đi vận đông vất vả từ Quốc Hội sang Bộ Ngoại Giao đến chính giới nên mới có cái dự luật “H O.” tưởng tượng ngày 1/5/1987. Không ai phủ nhận công lao to lớn đó của hai vị này; nhưng khi tra cứu và t́m hiểu kỹ th́ thấy rằng ông Bích và bà Thơ đă vất vả đi gơ những cánh cửa đă mở toang ra sẵn từ trước để mời quư vị vào dùng coca cola ướp lạnh, nghỉ mệt, chụp h́nh kỷ niệm để sau này trưng bày và nhận những lời cảm ơn rất lịch sự kiểu Mỹ…; có nghĩa là chính phủ Hoa Kỳ đă đi t́m cách trả món nợ quốc gia đối với đồng minh trong cuôc chiến “closing out this nation’s debt to its Indochinese wartime allies” từ rất lâu, trước khi ông Nguyễn Ngọc Bích và bà Khúc Minh Thơ đến gơ cửa văn pḥng họ.

Như đă tŕnh bày ở trên, không có cái gọi là dự luật H.O. ngày 1-5-1987 nào cả, mà chỉ là cái Nghị Quyết số S.RES.205 yêu cầu cộng sản thả tù chính tri. Cái gọi là dự luật H.O. chỉ là một món hàng giả do ông Bích và bà Thơ vẽ ra để đánh tráo một sự kiện lịch sử.

Viêc người tù chính trị ra đi muộn là do cộng sản gây khó khăn kể từ năm 1982 như ông Funseth đă nói trong cuộc phỏng vấn của phóng viên Nguyễn Khanh của RFA nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày 30/4/75. Ông Robert Funseth đă nói nguyên văn như sau: “…và ngay trong buổi đầu gặp gỡ với họ, (vào năm 1982) tôi được thông báo là trong số những người Hoa Kỳ muốn đón sang Mỹ định cư, thành phần tù nhân chính trị là diện khó nhất.”

Hoa kỳ là một quốc gia gồm những di dân và người tỵ nạn. Từ rất lâu, Hoa Kỳ đă có những đạo luật về di dân và tỵ nạn; nhưng sau ngày 30/4/1975, để đáp ứng với làn sóng hàng triệu người tỵ nạn Đông Dương, đặc biệt là người Việt Nam, Quốc Hội và Chính Phủ Hoa Kỳ đă ban hành 3 đạo luật về Đinh Cư và Tỵ Nan (Three Acts have facilitated the immigration and resettlement of Southeast Asian refugees) sau đây:

Đạo luật thứ nhấtIndochina Migration and Refugee Act of 1975 – University of California Irvine Southeast Asian Archive đă ghi lại trường hợp ban hành đạo luật này như sau:

“…In fact, one public opinion poll taken when Saigon fell in 1975 showed only 36% of the respondents in favor of Vietnamese immigration, fearing loss of job and increase public spending. However, President Gerald Ford and other public figures, including people who had been opposed to the war in Vietnam, strongly supported the refugees. Congress allocated resettlement aid and passed the 1975 Indochina Migration and Refugee Act, which allowed the refugees to enter the United States under a special migration and “parole” status…” (Thực vây, một cuộc thăm ḍ dân ư khi Saigon sụp đổ vào năm 1975 đă chỉ có 36% người được hỏi đă đồng ư nhận người di dân Việt Nam, v́ họ sợ mất việc làm và tăng chi tiêu của công. Tuy nhiên, tổng thống Gerald Ford và những nhân vật quan trong của Hoa Kỳ kể cả những người đă chống đối cuộc chiến Việt Nam cũng mạnh mẽ ủng hộ những người tỵ nạn. Quốc Hội đă phân phối ngân khoản tái định cư và thông qua Đạo Luật Đinh Cư và Tỵ Nạn Động Dương năm 1975, nó cho phép người ty nạn nhập vào Hoa Kỳ theo một quy chế nhập cư đặc biệt.)

Đạo luật thứ haiIndochina Migration and Refugee Assistance Act of May 23, 1975. This Act established a program of domestic resettlement assistance for refugees who fled from Cambodia and Vietnam. (Đạo Luât Trợ Giúp Di Dân và Tỵ Nạn ngày 23 tháng 5 năm 1975. Đạo luật này thành lập một chương tŕnh trong nội địa để trợ giúp cho người tỵ Nạn đến từ Cambodia và Việt Nam.)

Đạo luật thứ baThe Refugee Act of 1980 – This Act created The office of Refugee Resettlement, which administers programs and services for refugees within the U.S. Individual states play a central role in the resettlement process and are required to have plan for refugee assistance in order to receive federal funding… The Refugee Act of 1980 was passed to set up systems to deal with increasing number of refugees from Vietnam and other countries of the world. (Đạo Luật Tỵ Nạn năm 1980 – Đạo luật này thành lập Văn Pḥng Tái Định Cư Tỵ nạn để quản trị các chương tŕnh và dịch vụ cho người tỵ nạn trong nội địa nước Mỹ. Các Tiểu Bang của Hoa Kỳ giữ vai tṛ trung tâm trong phương cách tái nhập cư và đ̣i hỏi phải có kế hoạch trợ giúp tỵ nan để được nhận ngân khoản trợ cấp từ Liên Bang…Đạo Luật Tỵ Nạn năm 1980 được thông qua để thiết lập một hệ thống nhằm đối phó với sự gia tăng số người tỵ nạn từ Việt Nam và các nước khác trên thế giới.)

Trên đây là 3 đạo luật chính của Hoa Kỳ áp dụng cho tất cả các trường hợp đến tỵ nạn tại Hoa Kỳ sau ngày 30/4/1975 kể cả những người cựu tù chính trị Việt Nam, và không có cái gọi là Dự Luật H.O do ông Nguyễn Ngọc Bích và bà Khúc Minh Thơ vận động để áp dụng riêng cho những người tù chính trị Việt Nam. Ngoài 3 đạo luật trên đây, vào năm 1987, Quốc Hội Hoa Kỳ c̣n thông qua đạo luật Amerasian coming Home Act để đón nhận các trẻ em lai Việt Mỹ trở về nhà.

Người tù chính trị Việt Nam đi định cư tỵ nạn tại Mỹ là do Một Thoả Thuận (An Agreement) được kư kết giữa Hoa Kỳ và Việt cộng vào ngày 29/7/1987 tại Hà Nội. Cái bút mà ông Robert Funset dùng để kư cái thoả thuân đó với thứ trưởng Việt cộng Vũ Khoan đă được ông Funseth, v́ lịch sự kiểu Mỹ, tặng cho bà Khúc Minh Thơ để trưng bày (display) và làm kỷ niệm v́ bà Thơ và Hội Gia Đ́nh Tù Nhân Chính Trị đă nhận và chuyển giúp nhiền ngàn hồ sơ xin tỵ nạn chính trị của các cựu tù nhân tới Toà Đại Sứ Mỹ tại Thái Lan

Sự kiện tù chính trị Việt Nam là một sự kiện mang Dấu Ấn Lịch Sử. Do đó, mọi việc phải được tŕnh bày một cách nghiêm túc và trung thực. Chúng tôi ghi nhận bà Khúc Minh Thơ đă có những quan tâm đặc biệt đến những người tù chính trị trong đó có Đại Tá Nguyễn Bê, phu quân của bà, và làm trung gian chuyển tiếp hồ sơ xuất cảnh – có thể lên đến nhiều ngàn – của một số anh em cựu tù nhân tới Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan. Và chỉ có vậy mà thôi. Ơn nghĩa phải minh bạch và ṣng phẳng.

Trong một đoạn khác của bài phỏng vấn, ông Nguyễn Ngọc Bích có nói nguyên văn như sau: “…nếu không có cái hội của bà Khúc Minh Thơ th́ chương tŕnh H.O. không biết ở cái quy mô nào, có thể nó cũng xảy ra, nhưngquy mô rất nhỏ …”

Đọc câu này th́ phải hiểu rằng chính là nhờ bà Khúc Minh Thơ và cả ông Nguyễn Ngọc Bích nên mới có chương tŕnh H.O. quy mô lớn như thế và nếu không có bà Thơ và ông Bích th́ không có chương tŕnh H.O. và nếu có th́ nó cũng sẽ ở quy mô rất nhỏ. Đây chỉ là lời suy đoán mơ hồ, không dẫn chứng cụ thể. Một giáo sư đại học Mỹ không làm chuyện suy đoán như thế.

Chúng tôi tin chắc rằng dù bà Khúc Minh Thơ và ông Nguyễn Ngọc Bích có vất vả đi vận động hay không th́ việc những người cựu tù chính trị ra khỏi nhà tù cộng sản và sang cư ngụ tại Mỹ vẫn diễn ra theo đúng quy mô như nó đă diễn ra, bởi v́ việc này phù hợp với quyền lợi lâu dài của Mỹ. Sớm hay muộn, Mỹ phải trở lại Việt Nam, một vị trí chiến lược, để bảo vệ quyền lợi chính trị và kinh tế lâu dài của Mỹ trong vùng Đông Nam Á. Trong tập Hồi Ức và Suy Tư của Trần Quang Cơ, thứ Trưởng Ngoai Giao cộng sản, đă viết đại khái rằng ngay trong tháng 5-1975, hai cơ quan ngoại giao của Việt cộng và Hoa Kỳ tại Paris đă trao đổi thư từ bàn về việc thiết lập bang giao giữa hai bên, nhưng không thực hiện được ngay lúc đó và phải đợi cho tới hơn 20 năm sau mới thiết lập được bang giao bởi v́ Việt Cộng “đang thừa thắng xông lên,” đ̣i Mỹ phải bồi thường 3 tỷ mỹ kim. Và như tôi đă nói ở trên, khi những người cựu tù cuối cùng bước chân lên máy bay để rời khỏi Việt Nam th́ ngay lập tức vào ngày 3-2-1994, tổng thống Bill Clinton đă tuyên bố huỷ bỏ cấm vận cho cộng sản và chuẩn bị thiết lập bang giao giữa hai bên. Cũng nên nhớ rằng ngay từ năm 1977, tổng thống Gerald Ford đă không phủ quyết mà c̣n ngầm ủng hộ để cho cộng sản Việt Nam ra nhập làm thành viên Liên Hiệp Quốc; nghĩa là ngay sau khi tháo chạy khỏi Việt Nam, Mỹ đă chuẩn bị trở lại Việt Nam, một vị trí chiến lược để bảo vệ quyền lợi lâu dài của Mỹ tai vùng Đông Nam Á. Mỹ đă chạy khỏi Việt Nam, nhưng Mỹ vẫn không thể thoát ra khỏi Việt Nam. Do đó, vấn đề tù chính trị Việt Nam là vấn đề nằm trong tâm can cuả Mỹ. Dù có là đệ tử trung kiên của chủ nghĩa thực dụng, người Mỹ cũng không thể vác cái mặt mo đến Hà Nội lập Toà Đại Sứ khi những người từng là đồng minh thân thiết của họ c̣n nằm trong nhà tù cộng sản.

Ngoài yếu tố thực dụng trên đây, c̣n một yếu tố tâm lư cũng quan trọng. Đó là tâm thức tập thể của Hoa Kỳ đă nhận thấy rằng những người làm chính sách cao cấp của Hoa Kỳ như Kissinger và Nixon đă phản bội một cách vô đạo đức những cam kết của Hoa Kỳ đối với đồng minh VNCH. Đây là một lỗ đen trong lịch sử Hoa Kỳ (a black hole in the American history) không thể tẩy xoá được. Không một người Mỹ nào có lương tri và tự trọng có thể hănh diện ḿnh là người Mỹ trong ngày 30-4-1975. Lương tâm tập thể của Hoa Kỳ đă bị day dứt. Do đó, ngay trong tháng 5/1975, những khuôn mặt quan trọng của Mỹ đă từng chống đối cuộc chiến Việt Nam cũng đă ủng hộ manh mẽ người tỵ nạn Việt Nam. Quốc Hội và Chính phủ Hoa Kỳ đă nhanh chóng ban hành Đạo Luât Định Cư và Tỵ Nạn Đông Dương (The 1975 Indochina Migration and Refugee Act) cho phép người tỵ nạn Việt Nam vào Hoa Kỳ theo một quy chế nhập cư đặc biệt. Do đó việc đưa những người tù chính tri VN sang định cư tại Mỹ là để trả một món nợ lương tâm và đạo đức của Hoa Kỳ đối với những người đă một thời là đồng minh sát cánh chiến đấu trên cùng một chiến trường. Trả xong món nợ đạo đức và lương tâm này, người Mỹ mới có được những giấc ngủ yên hàng đêm. “This has helped us American sleep better at night.”

Mục đích trước hết và trên hết của cuộc phỏng vấn do ông Huy Phương thực hiện là

để cầu cứu ông giáo sư Nguyễn Ngọc Bích biện hộ cái tính chính danh cho bà Khúc Minh Thơ – đă bị Tổng Hôi Cựu Tù Nhân Chính Tri Việt Nam chính thức phủ nhận bằng một tuyên cáo – để bà này đứng ra tổ chức cái gọi là: “Ngày Tù Nhân Chính Trị Việt Nam.” Ông giáo sư càng cố gắng biện hộ th́ càng ḷi ra những điều không đúng sự thật. như đă tŕnh bày ở trên.

2- Trong bài “Tạp ghi Huy Phương: Chút ơn nghĩa cuối đời,” đăng trên Người Việt Online, ngày 1//11/008, có một đoạn ông Huy Phương đă viết nguyên văn như sau:

“…Gần đây, luận về một sự giúp đỡ trong quá khứ cho mgười tù chính trị, người ta đă phân

tích, đem chẻ sợi tóc ra làm tư để phủ nhận công ơn những ai đă giúp đỡ ḿnh, dù nhiều, dù ít, bằng cách này, hay bằng cách khác. Để khỏi mang ơn hay tránh mặc cảm là kẻ vô ơn, người ta phải tự lừa dối với cả chính ḿnh bằng cách vẽ lại h́nh ảnh người ơn một cách xấu xa đến mức tàn tệ. Khi xúc động với ḷng biết ơn người ta vẽ nên h́nh ảnh bà Tiên nhiệm mầu chan chứa ḷng bác ái, khi bất b́nh người ta sẵn sàng tô vẽ h́nh ảnh ấy thành một mụ phù thuỷ quái ác. Thật ra, chúng ta không phải nhất thiết làm những chuyện như vậy, v́ vào những ngày xa xưa ấy, những người bỏ công sức, bằng cách này hay cách khác để t́m cách cứu vớt người lâm nạn, không có ai mong mỏi sẽ có một ngày nào đó được đền đáp lại, dù chỉ là một câu cám ơn đầu lưỡi.

Trong toàn bài viết cũng như trong đoạn văn trên đây, ông Huy Phương đă vận dụng một thứ t́nh cảm lê thê để trách móc một cách hồ đồ và gọi những người tù chính trị là kẻ vô ơn đối với bà Khúc Minh Thơ, đại ân nhân của ông Huy Phương. Bằng một giọng văn nỉ non, bi thảm, ông Huy Phương đă tô vẽ h́nh ảnh những ngượi tù chính trị thành những h́nh nhân đau khổ, tuyệt vọng, mất hết niềm tin, chỉ c̣n biết ngồi chờ bà Tiên nhiệm mầu chan chứa ḷng bác ái của ông Huy Phương đến cứu. Ng̣i bút của ông Huy Phương đă phản ánh ngược lại bản chất hiên ngang của các chiến binh anh hùng của QLVNCH mà tôi đă chứng kiến qua 9 trại tù cộng sản từ Nam ra Bắc. Chính bọn cai tù ác ôn cộng sản cũng phải thú nhận rằng: “bọn nguỵ quân cứng đầu này không thể cải tạo được. Bọn tù binh Pháp, tù binh Mỹ c̣n biệt sợ chứ bọn lính nguỵ này không biết sợ là ǵ.” Chính v́ cái bản chất hiên ngang, không chịu khuất phục mà người chiến binh sa cơ đă bị lũ cai tù vô nhân tính cộng sản trả thù một cách rất dă man và đê tiện. Đă có biết bao nhiêu anh em đă chết dưới đ̣n thù của cộng sản và trước khi chết anh em vẫn giữ được hào khí anh hùng của người chiến binh QLVNCH.

Ở trên, tôi đă tŕnh bày một cách minh bạch và ṣng phẳng về “công ơn” của bà Thơ trong việc chuyển giúp nhiều ngàn hồ sơ xin xuất cảnh cho một số anh em cựu tù chính trị; cũng như tôi đă chứng ḿnh rằng cái Dự Luật H.O. chỉ là sản phẩm do ông Bích và bà Thơ vẽ ra; và tôi cũng chứng ḿnh bằng những văn bản và các sự kiện cụ thể rằng việc vận động để người tù chính trị ra khỏi nhà tù và đi định cư tại Mỹ là do chính phủ Mỹ chủ động từ đầu đến cưối để trả một món nợ quốc gia (this nation’s debt) đối với đồng minh trong cuộc chiến (to its Indochina wartime allies.) Bà Khúc Minh Thơ không có công đầu trong vụ này, tức là không phải v́ có bà Thơ hô hoán: “Có người rơi xuống giếng, nên người Mỹ mới đem thang, đem dây tới cứu như ông Huy Phương đă so sánh một cách ngớ ngẩn và gọi những người tù chính trị là kẻ vô ơn một cách hàm hồ. Người Mỹ đă t́m cách trả món nợ quốc gia của họ (a nation’s debt” chậm nhất là từ năm 1982, nghĩa là từ rất lâu trước khi bà Thơ hô hoán: Có người rơi xuống giếng.” bằng cái dự luật H.O. tưởng tượng ngày 1/5/1987. Bà Thơ đă đến sau, chạy chung quanh cái giếng để hô hoán và cổ vơ trong khi người ta đă bắt tay vào việc và đang cứu.nạn. Dù sao th́ cũng phải cám ơn bà Thơ v́ những lời hô hoán này.

Bà Khúc Minh Thơ hiện là Sáng Lập Viên và Thành Viên Hội Đồng Tư Vấn của “Hội Bảo Tồn Lịch Sử & Văn Hoá Người Mỹ Gốc Việt” mà chủ tịch là bà Nancy Bùi, người đang có cơ sở làm ăn với cộng sản tại Việt Nam và phó chủ tịch là luật sư Trần Mộng Vinh, ông này đă ca tụng bọn lính cộng sản, quân đánh thuê cho Đệ Tam Quốc Tế, là ái quốc và có những lời lẽ súc phạm người lính VNCH. Với chức vụ quan trọng của môt tổ chức gồm những người hai mang như trên và thường đi về Việt Nam và đă được cộng sản cho mua nhà tại Vũng Tàu, chúng tôi có quyền nghi ngờ lập trường chính trị của bà Khúc Minh Thơ.

Tôi đă đọc được trên diễn đàn Internet một câu nói được coi là của bà Khúc Minh Thơ, xin ghi lại nguyên văn như sau: “Tôi đem các anh qua đây, mà các anh quậy phá quá, biểu t́nh tranh đấu tùm lum.” Đây là câu nói xúc phạm đến danh dự người tù chính trị và người lính Việt Nam Cộng Hoà mà cộng sản rất thích nghe. Nếu đúng là bà Thơ đă nói câu này, bà phải có một lời xin lỗi anh em cựu tù chính trị và người lính VNCH nếu bà c̣n mang danh nghĩa người Việt quốc gia chống cộng.

Chúng tôi phải cân nhắc cẩn thận những lời cám ơn dù là lời cám ơn đầu lưỡi như ông Huy Phương nói, bởi v́ đây là vấn đề Danh Dự và Tự Trọng. Không thể v́ không nhịn nổi một cơn thèm khát nhỏ – dù là ở hoàn cảnh đói khát trong nhà tù cộng sản – để đưa tay ra nhận một cái kẹo to bằng đầu ngón tay út để rồi phải mang ơn suốt đời như ông Huy Phương, và coi “người ơn” đă cho ḿnh cái kẹo là “bà Tiên nhiệm mầu chan chứa ḷng bác ái.” Dù bật cứ trong hoàn cảnh nào, người lính có danh dự và tự trọng không làm chuyện đó.

Sự kiện tù chính trị Việt Nam là một sự kiện mang dấu ấn lịch sử, phải được tŕnh bày một cách nghiêm chỉnh và trung thực. Mọi chuyện, kể cả ơn nghĩa, phải minh bạch và ṣng phẳng. Đánh tráo một sự kiện lịch sử là có tội đối với lịch sử. Những người lính VNCH đă hy sinh, đă chiến đấu và cầm súng chiến đấu đến phút cuối cùng trong ngày 30-4-1975 và sa cơ rơi vào tay địch trong trận cuồng phong của lịch sử là những anh hùng đă bảo vệ quê hương thân yêu Miền Nam suốt 20 năm. Không ai lấy thành bại để luận anh hùng. Lịch sử sẽ ghi nhận những hy sinh xương máu của họ và không ai đươc phép lợi dụng danh nghĩa anh hùng của họ cho những ư đồ bất chính.

Đỗ Ngọc Uyển

Morgan Hill, California