Michael Do

              Quê Hương

 
 
 
 
 

Trang Chủ

Truyện Dịch

Viết Về Lính

Quê Hương

Chuyện Tù

Nhận Diện Kẻ Thù

Chuyện Người

Các Bản Tin

Nhận Xét

Hội Luận

Tác Phẩm

Tiểu Sử

Gia Đ́nh

Liên Kết

Gửi Thư

Trang Anh Ngữ

 

H́nh : Cổ Thành Quảng Trị

 

Quảng Trị, Tuổi Thanh Xuân Trong Nỗi Nhớ

Đỗ Văn Phúc 

Đă từ lâu, tôi vẫn có ư định viết một tập hồi kư về thành phố Quảng Trị mến yêu, nơi tôi đă sống qua trọn tuổi thiếu niên đầy hoan lạc. Thế mà không phải dễ đâu, v́ mỗi lần ngồi trước máy vi tính, gơ được vài ḍng chữ là thấy tắc nghẹn. Chẳng phải thiếu chuyện để viết ra, mà ngược lại v́ có quá nhiều điều muốn nói nên không biết phải bắt đầu từ đâu. Bây giờ mùa hè Texas đă sắp qua; cơn nóng hơn 100 độ đă dịu lại. Những ngày đi làm về chỉ muốn ngồi thưởng thức các bản nhạc t́nh, những cuốn phim hay đă mua dần trong gần mười năm qua mà chưa có dịp sử dụng tới. Đời sống quay cuồng, thời gian trôi nhanh. Mới đó mà đă xa Quảng Trị ba mươi ba năm. Những kỷ niệm tuổi thanh xuân nơi đất Quảng mến yêu vẫn theo đuổi trong những giấc mơ chờ dịp được trang trải ra trên những tờ giấy trắng. Mà hể là kỷ niệm th́ phải có chuyện của riêng ḿnh gắn liền theo từng biến cố, địa danh. V́ mỗi góc phố, mỗi con đường trong thành phố mến yêu đó đều gợi cho ḿnh một vài kư ức dạt dào t́nh cảm lăng mạn tuổi thanh xuân. Do đó, khi quư vị đọc qua, đừng than phiền là tác giả nói về cái tôi đáng ghét nhiều quá.

Tôi rời Quảng Trị năm 1966 lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Rời quân trường đổi về chiến đấu tại sư đoàn 5 bộ binh trấn nhậm 3 tỉnh Đông Nam phần, nơi có các địa danh lẫy lừng và đẫm máu nhất chiến trường miền Nam. Cuối năm 1969, lại về Quảng Trị nhờ vết thương bụng phải giải phẫu và được nghỉ phép 3 tháng dưỡng sức trước khi trở lại đơn vị. Đó là lần cuối cùng tôi nh́n thấy thành phố c̣n nguyên vẹn h́nh hài, phố phường tấp nập và dĩ nhiên mang đậm h́nh ảnh chiến tranh. Năm 1989, trước ngày từ giă Việt Nam ra đi theo chương tŕnh HO, tôi đă thực hiện một chuyến về quê săn sóc lại mồ mă ông bà lần chót. Quê nội tôi làng Đâu Kênh bên hữu ngạn con sông Thạch hăn đổ ra biển tại Cửa Việt. Từ tỉnh lỵ đi theo đường sông th́ có những chuyến đ̣ dọc đưa khách thương buôn lên xuống vào mỗi buổi sáng. Theo đường bộ th́ đi qua Sải trên con đường rải đá rộng đủ cho hai xe tránh nhau. Từ khi thành phố Quảng Trị bị san bằng trong trận mùa hè đỏ lửa 1972, tỉnh ly tạm dời vào Hải Lăng, nhưng sinh hoạt tấp nập lại chuyển về Đông Hà, nơi giao lưu của đường quốc lộ 1 và quốc lộ 9 đi sang Lào. Tôi đă theo đường sông từ bến đ̣ Đông Hà để về quê qua ngă ba sông ở Gia Độ.

Khi chiếc xe đ̣ từ trong Nam ra Trung chạy quá Hải Lăng chừng vài cây số, tâm hồn tôi bắt đầu rạo rực. Hai mươi năm nay xa cách nay trở lại quê xưa. Tôi yêu cầu anh tài xế cho dừng xe lại phía bên này cầu ga vài mươi phút để cố nh́n lại thành phố thân yêu mà nay chỉ là cảnh hoang tàn đổ nát. Đây là con đường đất dẫn lên làng Tích Tường, Như Lệ. Con đường này ngày xưa xe đ̣ từ Đông Hà sau khi qua cầu ga gập ghềnh, rẻ sang trái để chạy vào trung tâm thị xă. Cũng trên con đường đất này, năm 1965, tôi chứng kiến tận mắt xác một du kích Việt Cộng khi ṃ về quấy nhiễu dân làng, đă bị toán thám báo bắn nát nhừ, thân h́nh lỗ chỗ hàng trăm vết đạn. Tôi thả tâm hồn theo kư ức bắt đầu từ đây vậy. Tôi buớc ra khỏi xe, t́m một khoảng đất cao nhất nh́n về hướng thị xă. Chẳng có thứ ǵ c̣n lại mà cao hơn một thước, ngoại trừ những lùm cây mới mọc lên sau này. Ngược vào phía Nam chừng trăm thước là bệnh viện Quảng Trị, dĩ nhiên nay chẳng c̣n ǵ ngoài đống gạch vụn. Đối diện là Ty Công Chánh, trong đó có căn nhà đơn sơ của d́ tôi, nơi tôi đă ở trọ trong năm đầu học lớp đệ thất tại trường trung học Nguyễn Hoàng. Ngày hai buổi đạp xe đi học. Từ đây đến trường chắc chỉ vài cây số, đi qua phố chính Trần Hưng Đạo. Tôi nhớ gần ngă tư Hưng Đạo Quang Trung là tụ điểm của ba nhà sách Lương Giang, Tùng Sơn, và Văn Hoá. Nhà sách Tùng sơn có hai chị em cô Mai nhỏ nhắn, mủm mĩm, dễ thương; phải nói là đẹp. Học tṛ Nguyễn Hoàng, Bồ Đề, Thánh Tâm cứ chiều chiều lượn qua lượn lại, làm bộ xem sách để được nh́n ngắm các nàng. Đối diện là nhà sách Lương Giang của ông Nguyễn Quang Tŕnh, dạy Pháp văn trường Thánh Tâm. Ngày đó, cô Thanh Tâm, con thầy Tŕnh cũng là một trong những hoa khôi của Quảng Trị. Có lẽ v́ sắc đẹp của cô có vẻ kiêu sa, lại thuộc lớp đàn chị, nên các chú học tṛ chẳng dám nh́n lên. Thầy Tŕnh có óc tổ chức, trang trí, nên tiệm sách của thầy đầy đủ mọi thứ sách báo, văn pḥng phẩm hơn hết. Những ngày Noel, tết. bước vào nhà sách Lương Giang là chẳng muốn bước ra, v́ thấy thứ ǵ cũng thích cả: từ những tấm thiếp lóng lánh kim tuyến cho đến các tờ lịch có tranh cảnh hay h́nh ảnh các cô gái đẹp.

Tại ngă tư chính này của thị xă, thường có một ông cảnh sát già đứng điều khiển lưu thông, dù những ngày đó chẳng có mấy xe hơi trên đường phố Quảng Trị. Ông đứng trên cái bục tṛn không mái che, miệng ngậm tu huưt, hai tay chỉ phải chỉ trái suốt ngày. Con đường Quang Trung bắt đầu từ bờ sông, nơi các ghe thuyền đổ khách lên về từ các vùng quê đi nhóm chợ. Đường chạy thẳng đến tận trường Nguyễn Hoàng và sân vận động tỉnh. Sau đó chếch về nam thêm chừng cây số để gặp lại quốc lộ 1; đi tiếp là đến La Vang nơi thánh địa 200 năm xưa Đức Mẹ đă hiện xuống che chở cho đám giáo dân đang bị truy nă v́ luật cấm đạo thời Tây Sơn.

Con đường Quang Trung phải được đặt tên là con đường học tṛ. Trên một khoảng đường ngắn mà có đến mấy trường học: trường trung học Thánh Tâm, trường tiểu học Teresa, trường Nữ Teresa, cả ba trường tư này thuộc giáo hội Công Giáo. Hai bên đường là hai hàng phượng vĩ già. Cứ hè về, hoa phượng nở đỏ rực cả khoảng trời. Phượng rơi xuống lót đường học tṛ qua lại, phượng nằm ép trong những tập lưu bút ngày xanh đầy những lời thân ái hoa mỹ các bạn trao cho nhau trước khi tạm xa. Trên những cây phượng già đó, bọn ve sầu ngân nga những cung điệu u buồn của mùa chia tay. Chính trên con đường này, những cậu trai si t́nh theo lẻo đẻo sau các tà áo dài, ngập ngừng trao vội lá thư kẹp trong cuốn sách học. Tôi cũng đă đếm hàng ngàn buớc trên con đường đi học về để ngắm tấm lưng thon của VLH mà chưa hề dám mở miệng nói một câu làm quen. Ngày đó học sinh Nguyễn Hoàng nữ mặc áo dài trắng, nam áo trắng quần xanh; ngày lễ th́ toàn trắng. Trên nắp túi hàng trên thêu tên họ, hàng dưới hai chữ viết tắt NH. Lớp đệ tam có vạch đỏ hai bên chữ NH, đệ nhị hai vạch, và oai nhất là lớp đệ nhất anh cả, có tới ba vạch. Đệ nhị và đệ Nhất cách nhau một tấm bằng, bằng tú tài một. Cả hai bằng Tú tài 1 và Tú tài 2 học sinh phải vào tận Huế để thi.

Gia đ́nh tôi chỉ có hai mẹ con. Mẹ có tiệm bán hàng ở Đông Hà, ngay gần chợ. Tôi đi học sớm một năm, phải vào toà Hoà giải Rộng quyền làm lại khai sinh tăng thêm một tuổi để được thi vào lớp đệ thất Nguyễn Hoàng. Sau mùa hè 1957, tôi giă từ chăn nệm êm ấm và hơi hám mẹ lên đường vào Quảng Trị “du học”. Những năm đầu ở trọ nhà d́, sau đó dọn về nhà cô. Cô dượng tôi nghiêm lắm, thương con cháu nhưng chẳng bao giờ biểu lộ ra mặt. V́ thế tôi cứ né gặp cô dượng, trừ phi giờ ăn cơm phải chường mặt ra, len lén chờ xem có câu la mắng nào không. Cô tôi là mẹ của ca sĩ Duy Khánh, dượng cũng vừa là cậu bên ngoại. Những ngày ông Duy Khánh kéo các ban nhạc về Quảng Trị hát Đại Nhạc Hội là nhà trở nên thật tưng bừng và tươi mát. Tôi có dịp thoải mái tṛ chuyện cùng Thái Thanh, Thanh Thuư, Trần Văn Trạch... hay nh́n tận mặt các cô đào múa nở nang xinh đẹp trong ban vũ Lưu B́nh Hồng. Tôi c̣n nhớ cô Kiều Oanh, em gái nghệ sĩ Linh Giang, lúc đó là người yêu của Duy Khánh. Cô Kiều Oanh thích mặc áo dài màu hoàng yến; gái Bắc kỳ giọng nói nhẹ nhàng và ngọt ngào. Trong cái nh́n của tôi, chẳng có ai trên đời này đẹp hơn cô được. Sau cô lấy chồng là người hùng Biệt động Nguyễn Thừa Du, một loại thần tượng của tôi lúc c̣n thiếu niên. Cũng khoảng thời gian này, Duy Khánh đang theo đuổi tán tỉnh Thanh Thúy, người được giới hâm mộ đặt biệt danh là Tiếng hát Liêu trai. Tôi trở thành cánh chim xanh đi lại trao thư t́nh cho anh. Tôi thường thích đứng hai bên cánh gà để xem trong các đêm văn nghệ. Cả đến về sau này, khi làm lính biên cương những ngày phép từ đơn vị có dịp về Sài G̣n đến rạp Quốc Thanh, Hưng Đạo, cũng chỉ khoái vào nơi hậu trường, nh́n ngắm, tán tỉnh các cô hơn là ngồi đàng hoàng trong đám khán giả để nh́n lên chiêm ngưỡng cảnh sắc huy hoàng của sân khấu trong những ánh đèn màu rực rỡ.

Năm đệ thất, chúng tôi c̣n học Hán Văn với thầy Trần Công Hiệu. Kỷ niệm nhớ đời với thầy là tiếng “bôi táp lô” mỗi khi thầy sai học tṛ lên lau bảng. Con trai đầu của thầy, anh Trần Công Linh, ngày đó cũng là một trong những thần tượng của chúng tôi. Anh dáng  cao cao, đánh bóng chuyền giỏi, lại có máu văn nghệ. Anh đóng vai Kinh Kha xuất sắc trong vở kịch Kinh Kha sang Tần. Tôi th́ đóng vai người lính chỉ xuất hiện một lần khi mang một chiếc hộp trong đó có đựng đôi bàn tay ngọc ngà của nàng Ly Cơ do Thái Tử Đan gửi tặng Kinh Kha. Anh Linh đúng là một loại Kinh Kha cho chúng tôi thán phục. Sau này, gặp lại anh trong trại tù Hàm tân Z30C, cùng bị chuyển ra Xuân Phước, chia sẽ cùng nhau trọn 10 năm cay đắng. Anh vẫn khí khái, hiên ngang, nhưng trí óc có phần hơi bất thường do một tai nạn chấn thương vào sọ năo. Anh Linh dường như bị nhốt xà lim biệt giam gần trọn khoảng thời gian tù cải tạo, thân h́nh tàn tạ, rách nát, nhưng tính khí vẫn can cường.

Cô giáo dạy Việt văn là Trần H. H., tốt nghiệp đại học sư phạm Huế. Cô tṛn trịa, đẹp và hiền lành. Cô thương tôi nhất lớp, v́ tôi viết văn hay. Những bài luận của tôi thường được cô cho đọc lên cả lớp nghe. Cô thường gọi tôi đến pḥng trọ, cho ăn bánh hay dẫn đi ăn kem. Có lẽ v́ được cô thương nên đời học sinh của tôi mới ba ch́m bảy nổi. Từ một học sinh ngoan ngoăn, học hành chăm chỉ, tôi biến thành một trong những học sinh cứng đầu cứng cổ nhất trường. Số là có thầy A. cũng dạy Việt văn các lớp trên; lúc đó chẳng hiểu thầy có yêu cô H không, nhưng rơ ràng là thầy không ưa tôi, nói cho đúng là ghét cay ghét đắng v́ tôi được cô thương, cho gần gủi mỗi ngày. Thầy t́m mọi cách hành hạ, xử phạt oan ức tôi nhiều lần. Bản tính tôi th́ không chịu được sự oan trái, nên lâu dần tôi đâm ra ĺ lợm và dám chống lại thầy.  Lần tôi hỏng thi, cùng các bạn đến nhà cô trên đường Nguyễn Hiệu, nội thành Huế. Cô bỏ đám bạn tôi lại trong pḥng, dắt tôi ra sau vườn hái đào cho ăn và trách nhẹ rằng v́ tôi quá ham mê theo đuổi chuyện yêu đương mà thi hỏng. Ngày cô H đi nghỉ hè xa, cô gửi cho tôi tấm ảnh lớn chụp cô đứng tựa một gốc cây. Phía sau tấm ảnh là những ḍng chữ chi chít nhỏ cô kể chuyện ngày hè vui vẻ của cô.

Trường Nguyễn Hoàng thời đó là bề thế nhất tỉnh. Thầy hiệu trưởng Thái Mộng Hùng hiền lành, thầy giám thị Xuân th́ nghiêm khắc. Tôi nhớ thầy dạy Vạn vật Nguyễn Cữu Triệp rất khéo tay. Thường thầy dùng phấn màu vẽ lên bảng các loại thú rừng rất sinh động. Thầy Ḥa, thầy Thị dạy toán rất hấp dẫn. Hai đặc ngữ của thầy Thị mà chúng tôi không bao giờ quên là “ước số chung lớn nhất” và “bội số chung nhỏ nhất” được thầy đọc là “ư-xê-lờ-nờ” và “bê-xê-nờ-nờ”. Sau thầy bị động viên Thủ Đức ra trường phục vụ binh chủng pháo binh.

Ngoài Hán văn, chúng tôi đă học cùng lúc hai sinh ngữ: Anh văn và Pháp Văn. Thầy Lê Đ́nh Ngân dạy Pháp văn; thầy Nguyễn Hứa Thảo dạy Anh văn. Chúng tôi học từ sách L'Anglais Vivant của Pháp. Bài học đầu tiên là This is Jack, Jack is a boy; this is Jane, Jane is a girl. Ngoài ra, c̣n thầy X cũng dạy Anh văn, Thầy X. cao lớn, giọng nói ồm ồm. Thầy thường khoe rằng thầy nói tiếng Anh hay hơn Mỹ. Thửa đó, chúng tôi có biết người Mỹ nào đâu mà so sánh xem thầy nói hay hơn như thế nào. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn phục thầy sát đất v́ mỗi khi đọc Anh văn, thầy cứ trương gân cổ lên phát âm, nghe mà không thể nào bắt chuớc được. 

Vào những năm đầu 60, các thầy giáo Trung học là có mức sống tương đối cao nhất. Tốt nghiệp Đại học sư phạm 3 năm, lương hàng tháng khoảng hơn 4000 đồng, trong khi giá chiếc xe Vespa mới toanh chỉ cở 25000; muời tháng lương của thầy đă có thể mua được một xe hơi Peugeot 203 le lói. Đa số các thầy c̣n đi xe đạp mà giá cao nhất cho loại xe tốt nhất chừng 2500, vài thầy chạy Vespa, Lambretta. Ở một thành phố nhỏ như Quảng Trị, thầy giáo Trung học là đối tượng của các gia đ́nh có con gái đến tuổi cặp kê. Thời này người lính chưa có được một vị trí xă hội thích đáng. Học tṛ đi học thường mơ ước trở thành bác sĩ, kỹ sư. Nhưng cả trăm người mới có vài người ngoi lên đến các học vị này. C̣n đa số th́ thích ra làm thầy giáo, cuộc sống an nhàn và trung lưu, được mọi người kính nể. Ngoài ra, thầy giáo c̣n là một khuôn mẫu đạo đức trong xă hội. Do thế, các thầy phải sống vào ṿng nề nếp mà những người ngưỡng mộ thầy đă khoanh lại cho; chỉ bước chịch ra một chút là mọi dư luận đổ lên đầu, chỉ c̣n cuốn khăn gói mà đi xứ khác làm ăn thôi.

Lớp học chung nam nữ. Các cô ngồi các hàng ghế trước, sát bàn thầy. Các cậu lớn sồn sồn th́ ngồi các bàn sau cùng. Những giờ ra chơi, chúng tôi đẩy bàn ra hai bên, chừa một khoảng trống ở giữa diễn tṛ đánh lộn. Có anh chàng bắt đầu chập tập hút thuốc lá, thở khói ra trong hộc bàn rồi dùng cuốn vở quạt lia quạt lịa. Tuổi học tṛ đố anh nào không từng làm thơ, và tự đặt những bút hiệu thật bay bướm. Lớp tôi có Trần Đ́nh Bé, tức thi sĩ Thạch Nhân. Tôi c̣n quen Lê Văn Chính, bút hiệu Sương Biên Thuỳ, sau này lại đổi là Lê Mai Lĩnh. Hai anh có thơ đăng trên các tạp chí giá trị như Thế Kỷ Hai Mươi, Sáng Tạo, Hiện Đại, Văn Học, Nghệ Thuật, Bách Khoa... Thạch Nhân h́nh như đă chết trong một tai nạn chiến tranh, Lê Mai Lĩnh th́ nay râu ria xồm xoàm đang làm thơ chửi Việt Cộng ở tận Connecticut. Tôi phụ trách làm bích báo cho lớp nhiều năm liên tục, cố rặn đẻ ra một số bài thơ mà nay nếu có nhớ lại th́ cũng chẳng dám xướng lên v́ e không gian sẽ mất đi phần thanh khiết ngay.

Con đường Trần Hưng Đạo song song đường bờ sông. Thị xă Quảng trị nằm bên bờ hữu ngạn sông Thạch hăn. Gịng sông hiền lành vào mùa xuân, hè, trở nên hung hăn vào thu đông; ḍng nước chảy mạnh uốn xói lở phía bên này, đem đất cát bồi cho Nhan Biều ở phía bên kia. Thanh niên Quảng Trị thường ra tắm sông ngay bến dinh Tỉnh Trường. Có người đi xa hơn, lên tận cầu ga để biểu diễn màn nhào lộn. Ngay bến, mực nước đă sâu quá đầu. Nhưng chịu khó bơi ra giữa sông th́ chỉ cạn đến bụng thôi. Những chuyến đ̣ dọc chen chúc người với mái chèo khoan nhặt trên sông làm cho sông thêm nhiều sinh khí. Con đ̣ từ đây sẽ đưa hàng hoá về các thôn quê tận cửa Việt. Sông Hăn gặp sông Hiếu ở ngă ba Gia Độ, nơi đó sông trải rộng ra, nước đă bắt đầu lờ lợ, hai bên bờ đă nhiều cát hơn đất. Trên bờ sông, đi qua dinh Tỉnh trưởng là toà Hành Chánh hai tầng bề thế. Kế đó, chúng ta đến ty Học Chánh, trường Nữ Tiểu Học, và cuối cùng là chùa Tỉnh Hội trước khi đi qua một vùng đất thấp, một chiếc cầu sắt về đến Sải. Chùa Tỉnh Hội có truyền thống tu tĩnh, hành đạo, nơi sản sinh ra nhiều vị cao tăng lănh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất như Thượng Toạ Thiện Minh. Cậu tôi, ông Trợ Triển lúc đó làm chánh đại diện Phật giáo. Năm 1965, khi biến cố Phật Giáo xuống đường xảy ra trên toàn quốc, tôi đang làm thông dịch cho một cơ quan chống khủng bố thuộc toà Đại sứ Mỹ có trụ sở trên đường Quang Trung, sát nách trường Nữ Trung học Teresa. Tôi trực tiếp làm việc với ban chỉ huy Biệt Chính mà các thành viên ṇng cốt thuộc đảng Đại Việt. Dĩ nhiên chúng tôi đối lập hẳn với phe Phật Giáo đấu tranh. Thế rồi Phật tử đem bàn thờ ra đường ngăn chặn lưu thông. Buổi trưa tôi lái xe jeep đi ăn cơm, lách né sao đó quẹt làm đổ một bàn thờ. Hú viá. Tôi bèn t́m ngay tấm khiên che chắn tốt nhất là chạy về nhà cậu trốn biệt mấy ngày. Bên ngoài, các chú thiếu niên quyết tử khăn đỏ buộc cánh tay hàng ngày hăm hở đi truy t́m cho ra anh chàng Đại Việt “phản động” đă đạp đổ bàn thờ, bên trong nhà, tên Đi Vi ngồi thản nhiên nghe các lănh tụ đấu tranh bàn kế hoạch đối phó với lính Thiệu Kỳ. Đất Quảng Trị nhỏ, nghèo, nhưng dân Quảng Trị kiên cường, có lập trường chắc chắn. Theo ai là theo hết ḷng, không v́ sang giàu mà phản bội anh em, không v́ chết chóc cực h́nh mà phản bội lư tưởng. Khoảng thời gian này, Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng có sự tranh chấp nghiêm trọng. Đại Việt đang nắm guồng máy chính quyền, có lực lượng quân sự là hàng chục trung đội Vơ trang Tuyên truyền (tức Biệt Chính), có các đoàn Xây dựng Nông thôn, trang bị vũ khí đầy đủ. VNQDĐ chỉ mạnh ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngăi.

Con đường chạy qua cổng trường Nguyễn Hoàng h́nh như tên đường Duy Tân. Nó chạy qua làng đạo Trí Bưu, nơi có nhà thờ cổ kính mà chúng tôi mỗi Noel thường về ăn rề vây dông với gia đ́nh thầy Hiệu dạy Hán Văn. Thêm một con đường nối làng Trí Bưu đến chùa Tỉnh Hội mà tôi đă quên tên, cùng ba đuờng Lư Thái Tổ, Duy Tân, Trần Hưng Đạo làm thành một tứ giác bao bọc cổ thành Đinh Công Tráng nổi tiếng, nơi quân lực Việt Nam Cộng Hoà đă viết nên trang chiến sĩ hào hùng nhất của ḿnh trong chiến tranh Việt Nam. Thời đó chưa có Địa Phương Quân. Tỉnh đoàn Bảo An là một tổ chức bán quân sự thuộc quyền bộ Nội vụ. Trong thành là các cơ sở quân sự tiểu khu, dân thường ít ai vào đây. Thành vuông vức mỗi bề một cây số, xây bằng gạch, cao khoảng 4 mét, có hào sâu bọc chung quanh. Ra vào bằng bốn cửa ở bốn hướng. Năm 1972, Việt Cộng, v́ muốn tạo áp lực tại hoà đàm Paris, đă xua đại quân vượt sông Bến Hải, chiếm Quảng Trị. Hai Sư đoàn Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến đă tiếp sức nhau đánh một trận tuyệt vời tái chiếm lại cổ thành và thị xă đă tan nát v́ bom đạn của cả hai bên. Hàng ngàn thanh niên miền Nam đă đổ màu nơi đây cho lá cờ vàng tung bay trên bầu trời Quảng Trị lộng gió.

Quảng trị ít tṛ vui. Rạp ciné Đại Chúng nằm cuối đường Phan Thanh Giản là rạp hát độc nhất của thị xă. Mỗi ngày thường có xuất tối lúc 7 giờ, thứ bảy có xuất chiều, chủ nhật thêm xuất sáng. Phim t́nh cảm Pháp thịnh hành nhất. Sau đó là phim cao bồi Mỹ và nhiều phim Ấn Độ lúc nào cũng ca muá han-ca-ri, han ca-ra, ướt mèm nước mắt. Mỗi buổi tối, cứ đến giờ ăn cơm là rạp bắt đầu mở nhạc quyến rũ khách xem. Nhà cô tôi ở gần rạp. Tiếng hát của Paul Anka, Andy William, Elvis Presley, Patti Page...  vẵng vào tận pḥng, lôi kéo tâm trí tôi ra khỏi những trang sách đầy công thức tẻ nhạt. Nghe măi đâm thuộc từng bài hát, nhớ in từng tên tài tử. Lâu lâu lén cô tôi đi xem phim. Vé mua th́ không đủ tiền, chúng tôi thường chờ cho đến khi phim bắt đầu chiếu, dúi vào tay anh soát vé mấy đồng để được cho vào. Thường khi, buổi chiếu bắt đầu bằng lễ chào quốc kỳ; trên màn ảnh hiện lên h́nh lá cờ vàng bay phất phới, ngay giữa là cờ là ảnh tổng thống Ngô Đ́nh Diệm. Sau đó là phim thời sự do bộ Thông tin thực hiện, vài quảng cáo phim kỳ tới rồi vào phim chính. Khán giả đủ loại, mà phần nhiều là trẻ con. Ghế gỗ bật lên bật xuống lách cách. Khói thuốc toả ra mù mịt. Trong rạp nhiều khi không đủ tối. Nhất là các xuất ban ngày, ánh sáng bên ngoài cứ ngoan cố ùa vào. Một năm vài lần, các ban nhạc từ thủ đô Sai G̣n ra tổ chức nhạc hội, có đủ các món: ca, kịch, vũ, hài, ảo thuật. Dân Quảng Trị đă khóc theo tiếng nức nở của kỳ nữ Kim Cương trong vở kịch Trà Hoa Nữ, đă cười theo từng câu chuyện vui của quái kiệt Trần Văn Trạch trong các màn độc diễn hài hước, hay sững người, tṛn xoe mắt, nín thở qua màn vũ sexy của nữ thần Thu Thủy, Kim Vui. Thỉnh thoảng các đoàn cải lương cũng chịu khó gồng gánh ra địa đầu giới tuyến để trổ tài. Những ngày có nhạc hội hay cải lương, thị xă Quảng trị sống động hẳn lên. Đây là dịp để các giới, các thành phần dân chúng có dịp quần là áo lượt, rủ qua bên những ngày chật vật theo cơm áo để tụ hội về một khoảng không gian nhỏ bé, ồn ào, bụi bặm, nồng nặc hơi người, nhưng vô cùng đầy màu sắc, linh động. 

Mùa đông Quảng Trị buồn lắm. Mưa chi mà mưa măi, kéo dài hàng hai ba tháng không ngơi. Đất thấm ướt đẩm, nhà cửa cũng thấm ướt mốc meo. Thế nhưng vẫn cứ sinh hoạt như thường. Thầy tṛ cứ đi đến trường, công chúc cứ đi làm, chợ búa cứ nhóm đông đủ v́ chả lẽ ở nhà miết hai ba tháng trời. Có thương chăng là thương người trai lính chiến đấu nơi sa trường. Học tṛ Nguyễn Hoàng là nguồn bổ sung sĩ quan cho chiến trường giới tuyến, nhiều người lừng danh trong quân sử. Thanh niên hậu duệ Chúa Nguyễn Hoàng ít ai đi lính mà chịu về làm văn pḥng. Lê Huấn lên cố Đại Tá chưa đầy ba mươi tuổi. Vơ Toàn, Hoàng Măo làm trung đoàn trưởng sư đoàn 1 ở lứa tuổi hăm... Hùng móm sư đoàn nhảy dù chiến trường dày dạn rốt cuộc về để chết trên chính quê ḿnh khi tiến quân vào gần đến thị xă.  Đuờng phố Quảng trị những năm thập niên 60 đầy sắc áo trận. Tiếng đại bác từ hướng núi phía Đông vọng về thành phố mỗi đêm, đem lại nỗi lo âu cho các gia đ́nh có chồng, con  đang trấn thủ phương xa. Khăn trắng đă thêm nhiều trên mái đầu các thiếu phụ và các em thơ. Đầu năm 1966, Trung tâm Huấn luyện Biệt Chính nằm ngay làng Sải ở cuối thị xă bị Việt Cộng tập kích lúc nửa đêm về sáng. Tôi theo cố vấn Kenwood Foster cùng ông Đại tá Nguyễn Ấm, tiểu khu trưởng, đến thị sát lúc mặt trời vừa lên. Cả một không khí kinh hoàng bao trùm căn cứ. Xác anh em Biệt Chính nằm la liệt đó đây, không một ai toàn thây. Việt Cộng dùng chất nổ plastic nhỏ bằng bao thuốc lá, ném vào các lô cốt kiên cố xây từ thời Pháp. Cả tấm mái dày ba tấc bê tông cốt sắt bị hất tung lên trời, thành vách bể nát, th́ nói cho đến thân người bằng da thịt. Chỉ huy trưởng Trung tâm là Thiếu uư Vũ Đức Vọng may mắn thoát chết. Sau này anh là trung tá trưởng khối CTCT tiểu khu. Anh Vọng có tài, có tư cách đàng hoàng. Sau 75 anh bị tù ngoài Bắc được chuyển về Xuân Phước ở cùng nhà với tôi trong những năm chót trước ngày ra trại. Anh nghèo. ít được thăm nuôi nhưng khi nào cũng giữ ǵn tác phong gương mẫu và ư chí bất khuất. Thương thay, anh không c̣n sống để được đi định cư Hoa Kỳ như các anh em tù cải tạo khác. 

Quên. Nói về Quảng Trị mà quên nói tới cái ăn là thiếu sót lớn. Ai nói bún ḅ Huế ngon? Tôi vẫn ưa sợi bún Quảng Trị thanh nhỏ mà mềm mại hơn nhiều. Quán bún ḅ đường Lư Thái Tổ gần trường là một gian nhà tranh lụp xụp. Học tṛ, bồ bịch thường trốn học kéo nhau vào ăn. Điểm đặc biệt của quán bún ḅ này là có một hũ hành ngâm dấm ngon tuyệt để ăn kèm với bún.

Quảng Trị c̣n có dấm nuốt. Đó là một loại sứa biển, trong suốt và ḍn tan. Con sứa cắt thành miếng bằng ngón tay cái. Ngâm vào nuớc phèn cho nó khỏi tan thành nước. Một tô bún có chan nước tôm kho đánh, trộn với ít rau, giá sống, rải con sưá lên cùng ít đậu phụng rang giả nhỏ, kèm bánh tráng nướng và đặc biệt không thể thiếu trái ớt xanh cay nồng. Chịu khó đi về Sải sẽ được ăn các món nem nuớng đặc biệt. Chỉ ngửi mùi nem đang cháy xèo trên bếp than, th́ dù có cháy nhà đến nơi cũng phải dừng lại làm vài lụi mới chịu đi.

Quảng Trị nhỏ, đi một ṿng là hết. Nhưng khi c̣n lứa tuổi thiếu niên, chúng tôi vẫn thấy có nhiều kỳ thú phải khám phá hàng ngày. Từ một gốc cây hẹn ḥ hay góc phố chờ nhau; từ đêm Noel hoa đăng lạnh mát đến ngày hội thể thao tưng bừng ánh nắng. Từ con đường quê ngoằn nghèo trong làng Thạch Hăn cho đến chiếc cầu sắt lót vàn gập ghềnh. Tất cả đều có chút ǵ để cứ vấn vương măi trong ḷng người viễn xứ.

Người xứ khác c̣n có nơi để về, thị dân Quảng Trị chẳng c̣n ǵ ngoài hoang tàn, chỉ c̣n nơi để nhớ. Nhưng h́nh như trong ḷng mỗi người vẫn tái dựng lại h́nh ảnh của một thành phố nhỏ, hiền hoà và ấm cùng. Nơi đó đă chan chứa bao niềm tin yêu và hy vọng của tuổi thanh xuân.