|

Phục Hồi Phẩm
Giá Cho
Những Chiến Sĩ
Đă Chiến Đấu Trong Chiến Tranh Việt Nam
Đỗ Văn Phúc
Hàng năm, Trung tâm Việt Nam
thuộc trường Đại Học Texas Tech tại Lubbock thường tổ chức Hội thảo
về Việt Nam. Trường thường mời các vị chỉ huy quân sự hay các nhà
hoạt động ngoại giao, các giáo sư đại học đến tham gia về các đề tài
liên quan đến Việt Nam. Cuộc hội thảo năm 2001 được tổ chức trong ba
ngày 19 đến 21 tháng 4 tại Trung tâm Văn hoá Quốc tế thuộc trường
Texas Tech, nằm tại góc đường số 9 và đại lộ Indiana. Đề tài chính
năm nay là “Vai tṛ của Cố vấn quân sự Hoa Kỳ và Quân đội Việt Nam
Cộng Hoà.” Tôi được giáo sư James Reckner, Giám đốc Trung tâm Việt
Nam, mời làm diễn giả chính thức (Lunch Speaker) trong ngày thứ Bảy
20 tháng 4 trước khoảng 300 cử tọa. Sau đây là bản dịch lại bài nói chuyện
bằng Anh ngữ Give Back the Dignity to Those Who Fought in the
Vietnam War.
(Muốn đọc bản Anh Ngữ
xin bấm vào đây  ,
Hoặc đọc bản tin trên các báo Việt ngữ về Hội Nghị Lubbock 2001, xin
bấm vào đây   )
Kính thưa quư vị,
Tôi rất hân hạnh và sung sướng có
dịp được nói lên tiếng nói đại diện cho những cựu quân nhân Việt Nam
trước một cử toạ gồm những học giả, các sinh viên Cao học tại Đại
học Texas Tech, và các chiến hữu Hoa kỳ của chúng tôi.
Xin cám ơn Tiến sĩ Reckner đă tận
t́nh khích lệ và sắp xếp th́ giờ cho phần nói chuyện của tôi trong
buổi hội thảo này.
Tuy là một công dân Hoa Kỳ, hôm nay
tôi sẽ nói lên tiếng nói của người lính của Quân Lực Việt Nam Cộng
Hoà.
Cuộc chiến tại Việt Nam, kết thúc
năm 1975, được phiá Mỹ gọi là “Chiến tranh Việt Nam”, Cộng sản gọi
là “Chiến tranh chống Mỹ”; Đối với chúng tôi, đó là “cuộc chiến
tranh chống Cộng”. Từ nhiều năm nay, nó đă được bàn đến dưới nhiều
cách nh́n khác nhau mà quên lăng quan điểm của phiá chúng tôi.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, dù hùng
mạnh và trang bị tối tân, đă không được công luận Mỹ biết đến. Hay
tồi tệ hơn, chỉ được nói đến với t́nh trạng tham nhũng, bất lực và
là một gánh nặng cho chính sách của Hoa Kỳ.
Chúng tôi là những người lính thi
hành nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc chống cuộc xâm lăng của Cộng sản. Chúng
tôi bị bó buộc bởi các quyết định chính trị mà sự sai lầm đă mang
đến thảm họa trong những năm cuối cuộc chiến. Năm 1974, chúng tôi bị
buộc rút khỏi Quảng Trị và Ban Mê Thuột trong khi có dư khả năng
pḥng thủ các tỉnh đó. Chúng tôi đă buông súng trong uất nghẹn không
hiểu tại sao ông Minh lại có thể ra một cái lệnh đầu hàng Cộng sản
một cách ngu xuẫn như thế. (Dương văn Minh là Tổng thống cuối cùng ở
chức vị được 3 ngày)
Phải chi tôi có trọn một ngày để kể
cho quư vị nghe đủ những kinh nghiệm học hỏi trong chiến tranh.
Nhưng v́ thời gian hạn chế, tôi xin nêu lên những điểm quan yếu để
giúp quư vị hiểu thêm về vai tṛ của chúng tôi trong chiến tranh.
Điểm Mặt Kẻ Thù Của Chúng Ta
Thử gợi lại hồi ức về thời điểm chấm
dứt chiến tranh Đông Dương và Hiệp đinh Geneve năm 1954 với các điều
quy định như sau:
1.- Ngưng chiến từ 20 tháng 7, năm
1954
2.- Chia đôi lănh thổ VN thành 2
miền với hai chế độ chính trị đối nghịch
3.- Quân đội hai phe rút về hai bên
vỹ tuyến 17
4.- Tổ chức tổng tuyển cử để dân
chúng quyết định chế độ thích hợp dưới sự giám sát của Ủy ban Quốc
tế Kiểm soát và Giám sát.
Tại miền Bắc, Cộng sản bắt đầu xây
dựng một chế độ độc tài kiểu Stalinist dưới sự kiểm soát của Nga Sô
và Trung Cộng. Tại miền Nam, những người Quốc gia xây dựng thể chế
dân chủ kiểu tây phương với sự viện trợ của Hoa Kỳ và các nước trong
khối Thế giới Tự do. Sự chia cắt tạm thời trở thành vĩnh viễn do
phiá Cộng sản luôn luôn vi phạm hiệp định và do đó miền Nam từ chối
tổ chức tổng tuyển cử.
Nếu Hồ Chí Minh chỉ lo công việc của
ông ta ở miền Bắc, đừng quấy phá miền Nam, th́ đă không xảy ra cuộc
chiến kéo dài 21 năm làm chết hàng triệu người dân vô tội.
Trong quư vị có người sẽ hỏi tại sao
miền Nam từ chối tổng tuyển cử tiếp theo sự ngưng bắn mà hiệp định
Geneve đă quy định? Hồ và bè lũ của ông ta đă hoàn toàn kiểm soát
chặt chẽ miền Bác; trong khi tại miền Nam chúng tôi, quan niệm về
dân chủ chưa chín mùi. Ngoài ra, hàng ngàn cán binh Cộng sản nằm
vùng đang trở thành mối đe dọa cho sự ổn định chính trị miền Nam.
Đại hội thứ 3 của đảng CS ra quyết
nghị thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam và khởi động
chiến tranh chống lại nước Việt Nam Cộng hoà non trẻ của chúng tôi.
Mặt trận này ban đầu gồm những cán binh Việt Cộng, sau đó được tăng
cường quân đội miền Bắc. Nó chịu sự kiểm soát chặt chẽ của các ủy
viên trong bộ Chính trị đảng Cộng sản. Măi cho đến năm 1975 khi họ
chiến thắng, Hà Nội luôn luôn chối căi về sự tham dự của họ tại miền
Nam; dù rằng từ năm 1965, họ chuyển hàng ngàn binh sĩ chính quy và
cơ man đồ chiến cụ vào Nam qua đường ṃn Hồ Chí Minh.
Người ta đă hiểu lầm rằng cuộc chiến
là sự đấu tranh của dân chúng miền Nam chống lại sự can thiệp của Mỹ
mà vào lúc đó đang gửi những viện trợ hạn chế để giúp miền Nam phát
triển kinh tế.
Nhờ vào sự chiến thắng quân Pháp năm
1954, Hồ Chí Minh được coi như một người giải phóng. Ông ta luôn
nhấn mạnh rằng ông chiến đấu cho nền độc lập và đă che dấu cuộc xâm
lăng của Cộng sản bằng h́nh ảnh dân miền Nam nổi dậy chống chính
quyền. Nhiều quốc gia trên thế giới, và buồn thay, cả chính công
luận Mỹ, đă lầm lẫn và ủng hộ ông ta trong suốt 21 năm chiến sự.
Sự thực là Hồ đă nguỵ trang thành
một nhà ái quốc để vận động toàn nhân vật lực vào cuộc chiến chống
Pháp. Nhưng ngay sau khi cầm quyền tại miền Bắc sau 1954, ông ta đă
lộ nguyên h́nh là tay sai đắc lực của Nga sô và Trung Cộng. Trong
chiến tranh Việt Nam, ông ta muốn đánh đuổi người Mỹ để đón nhận
người Nga. Những người Cộng sản ngụy biện rằng họ đấu tranh cho độc
lập. Đó đơn giản chỉ là một chiêu bài lừa bịp. Chúng tôi không mong
nền độc lập như thế. Độc lập chẳng có nghĩa lư ǵ khi người dân bị
tước đoạt hết nhân quyền và dân quyền.
Tại sao chúng tôi chiến đấu?
Nếu cho rằng người Mỹ chiến đấu cho
Việt Nam, đó chỉ mới là một nửa sự thực. Đúng ra, Hoa Kỳ đă chiến
đấu để ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản vào Thế giới
Tự do mà Hoa Kỳ đang lănh đạo.
Sự bành trướng của Liên bang Sô viết
và các chư hầu Đông Âu cộng thêm sự xuất hiện của Trung Hoa đỏ là
một mối hiểm họa thường trực đối với thế giới. Là quốc gia lănh đạo
thế giới tự do, Hoa kỳ đă ư thức sự đe doạ đến an ninh và quyền lợi
của ḿnh khi một phần ba nhân loại đă bị nhuộm đỏ. Do đó học thuyết
Domino ra đời với sự thành lập các liên minh NATO, SEATO, ANZUS, vân
vân. Việt Nam, bất hạnh thay, trở thành chiến trường cho cuộc chiến
tranh ư thức hệ.
Người Việt chúng tôi yêu chuộng hoà
b́nh. Chúng tôi chỉ muốn tái xây dựng quê hương để bắt kịp các quốc
gia láng giềng. Nhưng chúng tôi không c̣n sự lựa chọn nào khác ngoài
việc cầm súng chống lại khủng bố và xâm lược của Cộng sản.
Chúng tôi phải bảo vệ các thành quả
xây dựng của ḿnh, bảo vệ những người thân yêu, chiến đấu cho niềm
tin mà chúng tôi ấp ủ. Đó là Tự do. Đó là cuộc sống xứng đáng của
những con người.
Hoa Kỳ chỉ đổ quân tham chiến vào
tháng Ba năm 1965 sau khi Cộng sản gia tăng khủng bố và tấn công vơ
lực nghiêm trọng. Cùng với Quân lực VNCH, quân đội Mỹ đă đảm trách
vai tṛ chủ lực tại vài vùng chiến thuật. Họ đă cống hiến tuổI thanh
xuân, một phần thân thể, và ngay cả hy sinh mạng sống cho dân tộc
chúng tôi và cho lư tưởng tự do mà Hoa Kỳ từng theo đuổi.
Chúng Ta Sai Hay Đúng?
Công luận Hoa Kỳ trong suốt thời
gian chiến tranh đă bóp méo sự thực. Các thông tín viên miêu tả
người lính Mỹ như những kẻ hiếp dâm và giết người. Nên khi trở về
Mỹ, họ bị coi như những tên tội phạm. Tồi tệ hơn, những người lính
Việt Nam Cộng Hoà bị coi là những kẻ hèn mạt. Báo chí đă đưa lên
trang đầu h́nh ảnh sai phạm hiếm hoi của vài cá nhân trong chúng ta,
nhưng lại che đậy những tội ác của Cộng sản. Trong chiến tranh, mọi
điều đều có thể xảy ra! Quân đội không phải gồm toàn người tốt.
Trung úy Calley đă bị trừng phạt về hành vi giết người của ông ta.
Báo chí đă làm ồn ào về vụ Mỹ Lai, mà bỏ qua vụ Cộng sản thăm sát
3000 thường dân trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân tại Huế. Vụ thăm
sát này là do lệnh của Hà Nội để khủng bố dân chúng miền Nam trong
21 ngày chúng chiếm cứ cố đô. Suốt 21 năm chiến tranh, không ngày
nào không có những hành vi khủng bố mà Việt Cộng nhắm vào thường dân
vô tội: pháo kích vào trường học, chợ búa, bệnh viện và khu dân cư.
Chúng bắt cóc, ám sát những ai không theo chúng. Chúng tra tấn dă
man và thăm sát quân cán chính miền Nam chẳng may rơi vào tay chúng.
Người lính Mỹ phục vụ tại VN trong
thời hạn 2 năm; họ đến và đi. Chiến tranh đă cướp mất 58000 sinh
mạng, và thêm khoảng 2000 mất tích. Về phần người lính Việt Nam, thi
hành quân dịch từ năm 18 tuổi, họ chỉ rời quân ngũ khi thân xác gói
gọn trong tấm poncho hay bị tàn tật. Họ đối diện với tử thần ngày
đêm trong suốt 21 năm. Có khoảng hơn hai trăm ngàn quân nhân miền
Nam tử trận và hàng trăm ngàn khác bị vĩnh viễn tàn phế.
Trong trận Khe Sanh năm 1968, Tiểu
đoàn 37 Biệt Động Quân VN đă chiến đấu dũng mănh bên cạnh TQLC Mỹ.
TQLC Việt Nam đă nắm vai tṛ then chốt trong việc tái chiếm cố đô
Huế. Hàng ngàn binh sĩ Dù và TQLC đă ngă xuống khi tái chiếm cổ
thành Quảng Trị năm 1972. Bộ binh VN đă kiên cường pḥng thủ An Lộc
trong 3 tháng bị bao vây tấn công bởi hàng sư đoàn Cộng quân năm
1972. Tuy nhiên, cuộc chiến đấu dũng cảm của chúng tôi bị bỏ quên
măi cho tới gần đây khi vài cố vấn Mỹ bắt đầu nhắc đến trên vài tờ
báo Hoa Kỳ.
Có Phải Chúng Ta Thua Trận Không?
Tôi không nghĩ như thế. Tuy nhiên
tôi đồng ư rằng Hoa Kỳ đă không thắng ở Việt Nam. Hoa Kỳ đă bỏ cuộc
khi t́nh h́nh chính trị nội bộ bị xáo động. Hoa Kỳ đă đánh giá sai
khả năng của Hà NộI và lầm lẫn trong khi tiên đoán sự can thiệp của
Trung Cộng và Nga sô. Hoa Kỳ không có một chính sách chung nhất v́
sự thay đổi các vị Tổng thống. Trong khi kẻ thù chúng ta quyết tâm
dành thắng lợi, chúng ta lại ngập ngừng trong từng bước. Hoa Kỳ đă
bị áp lực phải chấm dứt chiến tranh bằng bất cứ giá nào. Các điều
trên đă dẫn đến sự sụp đổ của miền Nam năm 1975.
Cộng sản thắng cuộc chiến, nhưng Hoa
Kỳ không thua. Chỉ có người dân Việt Nam là thua thiệt. Hàng triệu
người chết trong chiến tranh, trong các trại cải tạo, trên biển Đông
hay trong rừng sâu khi trốn tránh nạn Cộng sản. Người Việt hải ngoại
mất quê hương. Những người c̣n ở lại mất tự do, mất tương lai, và
quan trọng nhất là mất hy vọng và niềm tin.
Chính Nghĩa Về Tay Chúng Ta.
Ba mươi nam trước đây, nếu như các
sự kiện về Việt Nam được báo giới tŕnh bày trung thực cho công luận
Hoa Kỳ; nếu Tổng thống Kennedy đừng bị ám sát; nếu Tổng thống
Johnson đừng ra lệnh ngưng ném bom Hà Nội vào cuốI năm 1972 khi Cộng
sản đang đến hồi kiệt quệ và chuẩn bị đầu hàng; nếu vụ Watergate
dừng xảy ra; có lẽ tôi đă không đứng đây ngày hôm nay để bàn căi ai
đúng ai sai.
Thất bại trong chiến tranh không
chứng minh rằng chúng ta sai. Chính phủ miền Nam đă có vi phạm dân
quyền và rơi vào t́nh trạng tham những. Nhưng mặc dù chiến tranh,
VNCH đă xây dựng một nền móng dân chủ và bảo lưu nền văn hoá dân tộc
dựa trên các giá trị cổ truyền. Những thành tựu đó không thể có được
trong chế độ Cộng sản. Hệ thống chuyên chính vô sản giết chết mọi
đối lực và xiết chặt gọng kềm để kiểm soát nhất cử nhất động của
người dân. Cộng sản làm băng hoại xă hội.
Ngày nay tại Việt Nam, ngoại trừ một
thiểu số đảng viên CS có quyền lực và giàu có vô hạn, đại đa số dân
chúng đang sống một cuộc sống dưới cả mức nghèo đói. Không có đủ
trường học cho các em. Không có đủ việc làm cho người lớn. Dù có
được một công việc, người ta cũng không đủ nuôi thân. Cộng sản chỉ
làm được một việc là bóc lột dân chúng làm giàu cho bản thân chúng.
Tôi tin rằng chúng ta - các chiến sĩ
Hoa Kỳ và Việt Nam - đă chiến đấu cho chính nghĩa. Tại sao những
người lính Hoa Kỳ từ Việt Nam trở về không được tiếp đón như những
anh hùng như những chiến binh về từ Korea, Serbia, Kuwait? Họ đă
chiến đấu cho những giá trị mà dân tộc chúng ta từng đeo đuổi cơ mà.
Các cựu chiến binh Mỹ trong chiến
tranh Việt Nam đă chịu đựng sự ngược đăi quá lâu cho đến đầu thập
niên 1980 khi công luận có cái nh́n thay đổi về cuộc chiến và khi
bức tường tưởng niệm được dựng lên tại Hoa Thịnh Đốn để vinh danh
58000 tử sĩ. Một đài tưởng niệm sắp được xây cất tại Westminster là
một bước mới để vinh danh người lính VNCH.
Nhân dân Việt Nam luôn biết ơn đối
với sự hy sinh cao quư của các quân nhân Mỹ. Tâm ḷng chúng tôi xin
hướng về các gia đ́nh có thân nhân hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ
tự do cho Việt Nam.
Các cựu chiến sĩ VNCH cũng xứng đáng
được thừa nhận v́ họ đă chiến đấu cho tổ quốc, bảo vệ nhân dân và
các giá trị dân tộc. Chúng tôi đă hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng
với đất mẹ dù trong hoàn cảnh nào. Sự thực phải được tôn trọng. Con
cháu chúng ta sẽ rất hănh diện v́ cha mẹ chúng đă chiến đấu cho Tự
do và Nhân quyền.
Xin tỏ ḷng cám ơn chân thành và sự
kính phục đến các chiến hữu Hoa Kỳ.
Cám ơn tất cả quư vị. |