|
Michael Do Chuyện Trong Tù
|
||||
|
|
||||
|
|
Cuối Tầng Địa Ngục
Đỗ Văn Phúc
Phần 5: Gương Bất Khuất Trong Tù
Thời c̣n đi học, chúng tôi bị ảnh hưởng bởi những truyện lịch sử truyền thống Việt Nam, chỉ quan niệm các vị anh hùng phải là thuộc giai tầng ưu tú xă hội như những vị vua Đinh Tiên Hoàng, Lư Thái Tổ, Lê Lợi, Quang Trung, hay các vị tướng lănh thống soái như Lư Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trăi… Nhờ chế độ Cộng Hoà và nền văn minh dân chủ khai sáng, người Việt Nam đă nh́n đến những người anh hùng ở các tầng lớp thấp hơn như các thiếu úy, trung úy, các hạ sĩ, binh nh́, thậm chí đến những chị Ba Hàng Xanh, em học sinh Quách Thị Trang. Mỗi lần Bộ Tổng Tham Mưu tưởng thưởng chiến sĩ anh hùng, đều có đủ mặt các cấp từ tướng tá trở xuống đến binh nh́, có đủ quân binh chủng từ Dù, TQLC, BDQ cho đến ĐPQ và Nghĩa quân. Nói đến anh hùng thời chiến là nói đến nhưng chiến sĩ quả cảm, lập nên chiến công hiển hách trong phạm vi khả năng của họ. Thời b́nh hay nơi hậu phương là nói đến những nhân vật có những hành vi hơn người, vượt thắng khó khăn sợ hăi để bảo toàn danh dự, hay lư tưởng; hoặc có hành vi hy sinh bản thân để cứu người. Sự phong tặng danh vị Anh Hùng của chúng ta không quá lạm dụng như trong chế độ Cộng Sản. Họ phong anh hùng cho ngay những tên ngu muội, điên rồ bị lừa gạt chết oan nghiệt cho cái lư tưởng sai lầm; hay những kẻ vai u thịt bắp, đem sức ḿnh ra làm hùng hục để kiếm tiếng khen. Kiểu anh hùng gánh phân, anh hùng thủy lợi làm cho hai chữ cao quư này trở thành mỉa mai, lố bịch. Thời chiến trận, quân lực ta vốn đă sản sinh nhiều gương anh dũng. Thời quốc nạn, những người tù cải tạo cũng không kém phần can trường. Không thiếu ǵ những gương bất khuất mà chúng ta có bổn phận phải ghi nhớ và nhắc lại để con cháu hănh diện về cha anh họ. Mười năm tù, tôi đă chứng kiến nhiều hành vi dũng cảm mà không phải ai cũng có thể biểu lộ trước mũi súng, cùm kẹp của kẻ thù. Họ anh hùng hơn trăm lần những tên cán binh Cộng Sảnngoan cường trong trại giam tù binh của chúng ta. V́ người Cộng Sảnbị giam giữ trong khi c̣n chiến tranh tức là c̣n niềm hy vọng, c̣n hậu phương của họ, c̣n công ước Geneve về tù binh bảo vệ. Những người tù cải tạo th́ hoàn toàn cô đơn và tuyệt vọng. Cái ǵ đă giúp họ thắng được sự sợ hăi của cái chết, sự tra tấn, sự đày ải? Đó là lư tưởng, tinh thần quốc gia, là ḷng tự trọng và sĩ khí của người lính Việt Nam. Người mà tôi khâm phục nhất không mang cấp bậc tướng, tá, mà là một hạ sĩ tầm thường. Hạ sĩ Nguyễn Văn Đèn dáng người thấp, đậm, da ngăm đen, có buớc đi mạnh, vững. Anh người miền Bắc, tham chiến từ đầu thập niên 1950 trong binh chủng Nhảy Dù. Từ Z30D, anh được chuyển về Xuân Phước cùng một đợt với chúng tôi. Câu nói thường xuyên của Hạ sĩ Đèn là: - Ngày nào c̣n Cộng Sản, tôi c̣n chống. Anh không những nói với anh em, mà c̣n dư can đảm để nói trước mặt bọn cán bộ trại giam. Anh vào ra xà lim như người ta đi chợ. Nhưng dù bao đe dọa, đàn áp, anh vẫn không sờn ḷng, không thay đổi lập trường, hay ít ra thay đổi thái độ bên ngoài để được tạm yên. Đèn đă có lần phanh áo, ưỡn ngực ra thách thức tên cán bộ: - Tôi chống Cộng đó, cán bộ muốn bắn th́ bắn đi. Điều đặc biệt là suốt thời gian chúng tôi biết anh, không thấy ai thăm nuôi anh một lần. Anh là con bà Phước thực thụ, nhưng lúc nào anh cũng giữ ǵn tư cách, không để miếng ăn làm hạ phẩm giá ḿnh. Tôi từng chứng kiến những lần hiếm hoi trong năm, khi tù được ăn cơm trắng, có cá thịt; anh chẳng bao giờ đứng gần chỗ chia thức ăn để soi mói nh́n vào cái chén của ḿnh, so đo sự chia chác. Anh Đèn h́nh như về trước tôi vài năm. V́ đối với trại, miễn đừng làm ǵ nghiêm trọng như cướp súng, trốn trại, th́ dù chống đối đến đâu cũng được về khi đă đáo hạn mà bọn cai tù đă âm thầm tuyên án vào những năm đầu tiên (1975-1976). Điều này cũng áp dụng cho những anh hăng say lao động, làm ăng ten lập công mà tưởng sẽ được về sớm. Có nhiều anh em dân chính mà tôi không nhớ hết tên họ. Những người mới lớn lên trước khi miền Nam sụp đổ. Họ hoặc c̣n mài đũng quần trong các lớp học Trung và Đại học, hoặc làm những việc rất khiêm tốn trong guồng máy xă ấp. Nhưng họ lại có những ư chí bất khuất và hành vi dũng cảm không ngờ trong trại giam. Tôi muốn nhắc đến vài tiêu biểu là sinh viên Vũ Mạnh Dũng. Trắng trẻo, đẹp trai, hiền lành, tư cách; Dũng làm cho chúng tôi thương mến và khâm phục. Sau này Dũng bị liệt bán thân, anh em cựu tù A-20 hải ngoại có quyên góp gửi về nhiều lần cả ngàn đô la cho Dũng tạm sống qua ngày. Nguyễn Văn Phước, biệt danh Phước Chột, v́ anh hư một mắt. Gốc gác từ miền quê xa xôi ở đồng ruộng Nam phần, thuộc thành phần Hoà Hảo. Phước thất học, h́nh như làm nghề chăn vịt và bị bắt v́ theo kháng chiến Hoà Hào sau 1975. Phước làm đủ thứ linh tinh trong trại tù. Bắt trộm vịt, cá của trại để ăn, nhổ rau trộm của bệnh xá. Trong tay Phước khi nào cũng có một cái lon gô. Phước làm thế nào mà câu được cả con vịt rồi lột da, nhét trọn vào lon nấu có khi chưa kịp chín. Có khi Phước bẫy cả đàn chuột kho nấu bay mùi rất hấp dẫn. Nhưng Phước rất thảo ăn và có t́nh với anh em. Phước đă tận t́nh săn sóc Phạm Đức Nh́ trong hàng tháng trời khi Nh́ bị liệt, ăn uống vệ sinh tại chỗ. Đói th́ lấy trộm của trại giam, Phước không bao giờ lấy của anh em; và cũng chẳng bán ḿnh làm tay sai cho bọn cai tù. Phước sẵn sàng liều mạng nhảy hàng rào xà lim tiếp tế cho các đồng tù bị biệt giam (việc này xin ghi thêm công lao của Phạm Tuế khoá 2 CTCT đă tiếp tế đường, thuốc lào, giấy bút cho tôi liên tục trong lần cùm đầu tiên cuối năm 1979). Lâm Sơn Hải cũng là dân chính. Anh là con của cố Thiếu tướng Hoà Hảo Lâm Thành Nguyên. Hải tuy nhỏ tuổi nhưng chững chạc, tư cách đứng đắn. Ít nói nhưng chân t́nh, rất đáng tin cậy. Mỗi lần Hải được thăm nuôi tiếp tế, Hải chia xẻ cho anh em rất rộng răi. Lâm Sơn Hải có một đàn em thân tín là Mai Hoà Rết, tuy thất học, nhưng tính khí kiên cường, trung thành và hiền hậu. Tôi bị chuyển khỏi trại Suối Máu trước khi nổ ra vụ nổi loạn đêm Giáng sinh 1978. Chia cùng một cặp cùm chân trên chiếc Molotova rời Suối Máu lúc sau nửa đêm là anh bạn Trần Hướng Đạo. Trần Hướng Đạo, Phạm Văn Nhựt (Thiếu Úy Biệt Cách Dù) và tôi bị nhốt chung một Conex nhỏ ngay trước cổng trại K-5. Đạo, D., anh Tuấn và tôi bị đưa đi Hàm Tân trong cái đêm “kinh hoàng” cùng tất cả những người đang bị biệt giam của toàn trại Suối Máu. Đến Hàm Tân, Đạo, D., Tuấn và tôi lại cùng ở chung đội 45 là đội bị lưu ư nhất của Z30C. Sau này D. chuyển hướng v́ có người bố tập kết trở về h́nh như đang làm Trưởng ty Công an Phú Khánh. Ông ta đă đến thăm con sau gần 30 năm xa cách và chắc có hứa hẹn điều ǵ đó; làm cho D. thay đổi lập trường mà tôi là nạn nhân đầu tiên. Đến A-20, Đạo gia nhập ngay đám sĩ quan trẻ như Phạm Đức Nh́, Lê Trung Phương, Nguyễn văn Hải (Hải Cà), Hải Bầu, Nguyễn Hạnh, Bùi Đạt Trung thành một nhóm hoạt động chống đối liên tục và tích cực. Nhóm lớn tuổi hơn th́ có Vũ Trọng Khải (CSQG), Vũ Ánh (Kư giả), Nguyễn Chí Thiệp (Quốc Gia Hành Chánh), Trần Danh San (Luật sư), Tăng Ngọc Hiếu (Giáo sư biệt phái), Phạm Chí Thành (Con trai Đại tá sử gia Phạm Văn Sơn), Trần Trọng Minh (Không quân), nhà văn Duy Lam, ca sĩ Khuất Duy Trác. Nhóm Sĩ quan xuất thân từ cựu Hướng Đạo Huế th́ có Vơ Xuân Hy, Vơ Trịnh Xuân, Cái Trọng Ty[1]. Nhóm tù chính trị tôn giáo th́ có Châu Sáng Thế (Hồi giáo), các Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, Nguyễn Quang Minh, Nguyễn Huy Chương (Vinh Sơn)… Nhiều lắm không thể nhớ ra hết. Những người này là linh hồn của các cuộc đấu tranh trong tù. Họ là những con đại bàng dù sa cơ vẫn không để bị lẫn lộn trong đám gà qué. Những ngày lễ lớn của VNCH, thế nào các anh cũng tổ chức những buổi hát ca nhạc chiến đấu, phát hành nội san, vẽ cờ vàng hay khẩu hiệu chống Cộng trên vách. V́ thế, gần như thông lệ, gần đến các ngày 1-11 (quốc khánh VNCH), 19-6 (ngày Quân Lực), 25-12 (Giáng Sinh)… bọn cai tù lùa các anh vào xà lim nhốt lại cho chắc ăn, pḥng trước những biến cố có thể xảy ra. Những lần ruồng bố này, chúng không cần đọc bản án trước trại như những lần khác. Có lần, xà lim trại E chật quá, dù đă cùm bốn người một pḥng vẫn không đủ chỗ. Chúng đưa các anh vào tận trong các phân trại B, C để nhốt. Và thời hạn th́ vô chừng. Có người một tháng, có người vài ba tháng. Cho đến khi nào bọn cai tù thấy t́nh h́nh có vẻ yên ổn, chúng mới thả các anh ra. Điều cảm động và khích lệ nhất đối với tôi là lần các anh Phùng Văn Triển, Cái Trọng Ty và tôi bị đem vào cùm giữa năm 1980 do việc lăng công phản đối sau vụ hai tên cán bộ quản giáo Quyền và Hoà đánh trọng thương hai anh Ty và Triển trong nhà lô; anh em toàn trại đă không chịu nhận khoai ḿ sáng hôm sau và đồng thanh la lớn: “No Eat, No Work”. Tiếng la vọng đến tận xà lim như một sự nhắn gửi: ”Có chúng tôi bên các anh đây.” Trại đă phải thả chúng tôi ra vài ngày cho dịu cơn phẫn nộ của tù nhân. Sau đó t́m cách bắt chúng tôi trở lại đem vào biệt giam. Lần này th́ cả loạt cũng đến hơn mười người.
So với con số ít ỏi những tên làm ăng ten th́ thành phần bất khuất chiếm một đại đa số áp đảo. Thành phần thầm lặng cũng khá nhiều, nhưng họ không làm ǵ đáng trách ngoại trừ việc giữ im lặng, nín thở qua song. Ngoài ra có một số ít th́ biểu lộ “an tâm” cải tạo, hăng say lao động để giữ quyền lợi thăm viếng, được b́nh bầu khá và xuất sắc để được ăn phần 21, 18 kilo khoai ḿ khô mỗi tháng. Chính những người thuộc thành phần sau này đă làm cho chỉ tiêu của trại tăng lên gấp ba, gấp năm lần so với thời gian đầu khi chúng tôi mới đến. Chúng tôi c̣n nhớ những ngày đầu vào cuối năm 1979, chúng ra lệnh cho mỗi người phải đào 1 mét khối đất mỗi ngày. Anh em chúng tôi chỉ nhẩn nha khoét sâu chừng 2 tấc rồi lấy cớ đói, bệnh không thể làm hơn. Thậm chí chúng tôi c̣n lợi dụng sự ngu dốt của bọn cán bộ để qua mặt bắng cách đắp một lớp đất mỏng dài 3 mét, rồi bảo chúng nó: ”Một mét khối (1 m3) bằng ba mét thường.” Sau này chỉ tiêu lên đến 7 mét khối, mà vẫn có anh là vượt để được đi tắm suối, được bầu xuất sắc. Từ chỉ tiêu hai hố trồng khoai ḿ, sau này đă lên đến 45, 50 hố mỗi ngày. Nguyễn Chí Thiệp có lần đă lớn tiếng với tên cán bộ quản giáo Quyền khi tên này lên án anh em tù gian lận về chỉ tiêu. Anh nói: - Cán bộ không làm nên nói dễ dàng lắm. C̣n chúng tôi, chúng tôi phải so đo tính toán v́ đổ bao mồ hôi, công sức.
Lần thứ hai bị cùm ở A-20 vào khoảng giữa năm 1980, khi tôi từ nhà kỷ luật ra, được chuyển qua đội 21 xây dựng (là đội lao động xuất sắc nhất của trại. Đội trưởng là Trung tá BĐQ Lương Văn Ngọ, một người xuề xoà, vô tâm). Hai chân tôi c̣n rất yếu, chưa đi đứng vững mà đă được giao việc chuyển đất từ dưới độ sâu hơn 2 mét đem lên bờ. Dĩ nhiên cho dù có muốn làm cũng không thể nào làm được. Anh em thương t́nh xin cho tôi đứng trên bờ cầm cuốc để ban đất. Ấy thế mà khi b́nh bầu hàng tháng, có một anh trong đội đă phán một câu xanh rờn: - Anh Phúc chây lười, yếu kém, bóc lột sức lao động của anh em khác. Tôi trả lời ngay: - Các anh xuất sắc th́ các anh một tô đầy ụ khoai ḿ, c̣n tôi chỉ vài lát. Như thế anh chưa vừa ḷng ư? Nhà bếp được lệnh chia khoai ḿ theo tiêu chuẩn cho từng loại: thau dành cho các anh tích cực (21kg/tháng), một thau dành cho loại khá (18 kg/tháng), thau dành cho trung b́nh (mười lăm kg/tháng), và thau dành cho loại kém (12 kg/tháng). Trên mỗi thau đều có ghi số lượng người trong phân loại đó. Nhưng có lần, anh em nhà bếp lấy cớ không đủ thau để chia ra từng loại, nên phát chung, và có ghi nhân số từng loại trong đội. Chúng tôi biết thâm ư của nhà bếp là để anh em tù t́m cách chia xẻ đồng đều cho nhau. Nhưng thế nào khi chia khoai ḿ, cũng có vài anh đứng quanh soi mói nh́n và thắc mắc: - Anh P. thuộc loại kém, sao chia nhiều thế? gần bằng các anh loại khá?
Hai đội tích cực của Phân trại E là đội Xây dựng, đội Mộc. Có ít nhất là ba phần tư các thành viên trong hai đội đó thuộc loại xuất sắc. Tuy nhiên đa số các anh vẫn luôn tỏ ra thông cảm, che chở cho các anh yếu sức và bị trù dập. Nh́n chung, nhờ thành phần chống đối bất khuất khi nào cũng đông và đoàn kết, nên dù qua bao giai đoạn căng thẳng, khủng bố, anh em tù nhân vẫn giữ được khí thế làm cho bọn ăng ten phải e dè, bọn trật tự thi đua phải khâm phục và ngay một số cán bộ cũng dần dần bị cảm hoá.
Phần 6: No Eat, No Work
Khi đội ra lao động bên ngoài phiá Tây Bắc của trại. Cán bộ Quyền gọi hai anh vào nhà lô của đội. Nơi đây đă có sẵn cán bộ Hoà, quản giáo đội của tôi - đang lao động gần đó – và ba tên công an bảo vệ. Vừa bước qua cánh cửa tre, Quyền và Hoà xông vào đánh anh Triển tới tấp. Anh Ty thấy vậy, định chạy ra, th́ ba tên vơ trang chĩa súng ra ngăn lại. Ty đă la hét thật lớn để các đội lao động quanh đó có thể nghe được: - Cán bộ đánh anh em chúng tôi là sai. Không được quyền đánh tù. Tuy nhiên, v́ mới học được vài thế vơ từ một anh tù (xin giấu tên), Hoà và Quyền rất hăng máu. Chúng đánh hai anh nhiều cú đ̣n hiểm hóc trong khi hai anh chỉ rán dùng cánh tay để che các chỗ hiểm yếu. Sau chừng mười lăm phút, chúng thả các anh ra. Tôi đă thấy từ xa, h́nh ảnh hai bạn ḿnh tiều tuy, ôm bụng cố lết về phía anh em. Tôi vội lấy lọ dầu cù là ra xoa các vết thương cho bạn. Anh em đă d́u hai bạn về gần chỗ nấu nước để chăm sóc. Tất cả đều biểu lộ một sự căm phẫn cực độ. Khi tên Quyền và Hoà bước ra, thấy cả ba đội đang đứng bàn tán và không làm việc, chúng ra lệnh anh em đứng dậy tiếp tục cuốc đất. Không một ai nhúc nhích; và cũng không một ai lên tiếng. Sau hai ba lần la hét không hiệu quả, Hoà dùng thủ đoạn chia đũa ra từng chiếc để bẻ. Hắn bước đến từng anh, gọi đích danh và bảo đứng dậy đi làm. Đa số các anh đă miễn cưỡng đứng dậy, uể oải cầm lấy cây cuốc. Khi đến lượt tôi, tôi đă ôn tồn nói: - Cán bộ đánh hai bạn tôi, tôi c̣n xúc động, chưa làm việc được. Hoà đến bên cạnh Quyền, bàn tán ǵ đó rồi trở lại bảo tôi ra đến b́a rừng cho anh ta hỏi chuyện. Nhiều anh đă biết chuyện bọn Việt Cộng gạt tù ra b́a rừng rồi bắn chết, vu oan rằng họ dự mưu trốn trại. V́ thế, các bạn ra dấu cho tôi đừng đi. Tôi nói: - Cán bộ muốn làm việc th́ vào nhà lô hay về trại rồi làm. Ở đây không tiện cho tôi và cả cán bộ. Hoà và các quản giáo khác đều cho lệnh thu gom dụng cụ và kéo ba đội về. Trên đường đi, tôi thấy tên cán bộ Quyền nh́n tôi bằng đôi mắt rất căm hận. Lúc đó cũng đă gần đến giờ tan việc. V́ thế, vừa nhập trại xong là đến lúc người trực nhà đi lấy khoai ḿ về phát. Khi chúng tôi vừa bê bát khoai ḿ vào nhà, th́ cán bộ trực trại gọi tên ba người chúng tôi (Ty, Triển và tôi) ra và dẫn đi vào nhà kỷ luật ngay. Tên Quyền lại xuất hiện trước nhà cùm. Hắn nh́n vào tôi chầm chầm như muốn nhảy vào đánh chết. Tôi cũng trừng mắt lại nh́n tỏ vẻ không biết sợ. Quyền trước đây từng làm quản giáo đội của tôi, và đă từng nghe đến các việc táo bạo mà tôi làm, nên y cũng rút lui sớm.
Sáng hôm sau, khi tiếng kẻng báo giờ lao động. Tôi nghe nhiều tiếng vang từ khu nhà giam số bốn ở góc trại: - No Eat No Work Tiếng la lập đi lập lại nhiều lần, mỗi lúc một lớn v́ có sự phụ hoạ của nhiều nhà khác. Thế là khoảng xế trưa, có tiếng mở khoá. Chúng tôi được tháo cùm trả về đội. Th́ ra, các đội, bắt đầu từ nhà bốn của chúng tôi, đă không nhận phần ăn sáng và tuyên bố không lao động cho đến khi nào trại thả chúng tôi ra. Cán bộ giáo dục, trực trại, rồi đến trưởng trại đă vào thương thảo và cuối cùng, họ thả chúng tôi ra. Vài ngày sau khi sinh hoạt trở lại b́nh thường, trại đă lùa chúng tôi vào cùm trở lại cùng với thêm nhiều anh khác mà tội danh rất mơ hồ.
Phần 7: Hạt Vàng Trong Băi Bùn Đen
Có lẽ v́ thù ghét Cộng Sản quá, nên chúng ta chỉ nh́n thấy những xấu xa của họ, coi tất cả cán bộ Cộng Sản đều hung ác, thâm hiểm và dốt nát, ngờ nghệch. Nhưng thực tế, đôi khi trong chặng đường khổ nạn, chúng tôi cũng t́m thấy đó đây những tấm ḷng nhân hậu, chưa biến chất bởi sự giáo dục đồi trụy của chủ nghĩa Cộng Sản vô luân, vô nhân. Cán bộ Ngà coi đội 13 chúng tôi rất lâu. Câu nói thường xuyên của anh là: - Các anh cải tạo lâu dài, làm vừa vừa để c̣n sức khỏe mà về với gia đ́nh. Anh không bao giờ đặt ra chỉ tiêu cho đội hay cá nhân các đội viên. Trong lúc đội làm việc, th́ anh chạy ngược chạy xuôi kiếm khi th́ mớ khoai, khi mớ sắn đem về cho đội nấu ăn tại chỗ. Trong một thời gian dài, không có anh nào trong đội bị làm khó dễ hay la mắng nặng lời. Cán bộ Hoa, trắng trẻo đẹp trai, cao lớn và rất hiền lành. Biết săn sóc cho anh em trong đội. Cán bộ Lương người Hà Tĩnh, nhưng chắc thuộc thành phần bần nông mà không được ưu đăi trong chế độ. Có lần, khi tṛ chuyện về giai cấp xă hội, anh đă thổ lộ: - Người ta nói “con vua th́ lại làm vua”. Ḿnh con nhà khó, suốt đời khổ cực. Khi tại nhà lô của đội, nơi cất giữ nông cụ và hoa màu cũng như những mớ khoai để “cải thiện” bị một anh h́nh sự nào đó bẻ khoá vào trộm thực phẩm. Cán bộ Lương hỏi ư kiến xem ai có cách ǵ để tránh mất cắp. Có một ư kiến táo bạo đề ra là làm một cái bẫy bên trong cửa. Ai léng phéng mở cửa sẽ bị một cây cuốc rơi xuống đánh vào người. Cán bộ Lương đă tần ngần vài phút rồi nói: - V́ một chút thức ăn mà làm hại người ta như thế th́ không nên. Chúng tôi dư biết sau nhiều năm vào Miền Nam tiếp xúc với dân Nam và qua việc hàng ngày tṛ chuyện với các cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà, rất nhiều cán bộ binh lính Cộng Sản đă mở mắt và nhận ra được đâu là chân lư. Chẳng qua v́ chút quyền lợi cấp bách của đời sống mà họ phải bám vào cơ cấu của nhà nước. V́ thế, đă có một cán bộ “giáo dục” thấy tôi vào ra nhà kỷ luật nhiều lần, đă nói nhỏ: - Anh Phúc muốn vào rừng chống Cộng, muốn vượt biên, hay làm ǵ khác, th́ phải sống và c̣n sức khoẻ là tiên quyết.
Ngay trong thành phần trật tự thi đua, cũng có những người tốt. Thường trại xử dụng tù h́nh sự để làm thi đua trật tự. V́ thế, họ rất hỗn láo với tù nhân dù đáng tuổi cha ông. Họ rất đắc lực với trại, v́ họ nuôi hy vọng sớm giảm án. Việc đưa Dương Đ. M., một tù sĩ quan, làm trưởng ban Thi Đua Trật Tự phân trại E là một biệt lệ.
Ở phân trại E, Trưởng ban Thi đua (tiền nhiệm của Dương Đ. M.) là anh Hân. Hân là sinh viên Đại học Sài G̣n, đi nghĩa vụ quân sự đào ngũ tại chiến trường Kampuchea và bị tù. Hân rất mến các chú, các anh quân đội Cộng Hoà. Anh luôn t́m cách che chở và giúp đỡ cho tù nhân trong khả năng và phương tiện của ḿnh. Anh trật tự Trực, sĩ quan bộ đội người Bắc, lúc đầu cũng rất khó. Về sau được cảm hoá, anh cũng tỏ ra thân thiện dễ dăi với anh em tù nhân. Một trật tự ở phân trại B, anh Của, người Tây Ninh, là một sĩ quan của Việt Cộng. Khuôn mặt anh vuông, xương xẩu, trông rất hung ác. Mỗi khi nói chuyện, hai hàm răng nghiến vào nhau. Anh Của là hung thần của Phân trại B. Nhưng từ khi có Thiếu tá Nguyễn Chí Hiền – là người cùng đạo Cao Đài như anh Của - chuyển vào B và tiếp xúc với Của, Của có phần lơi ra. Sau này Của như trở thành tà lọt cho anh Hiền. Anh Hiền là Tiểu đoàn trưởng xuất sắc của Sư Đoàn 5 BB. Sau đó, anh về làm Quận trưởng Quận Châu Thành, tỉnh B́nh Dương. Trong trại, anh Hiền luôn giữ một tác phong nghiêm trang, đường bệ như thể anh vẫn c̣n làm một Tiểu đoàn trưởng nổi danh của Sư đoàn. V́ thế, đám trật tự thi đua cũng phải nể anh.
Phần 8: Những Khuôn Mặt Đáng Nhớ
Không thể không nhắc đến những người đặc biệt trong trại ít nhiều đă để lại trong ḷng anh em tù nhân, những ấn tượng đặc biệt.. Sư huynh Hồng, thuộc ḍng Đa Minh (?), bị án 20 năm khổ sai v́ tội tham gia lực lượng chống đối. Sư huynh c̣n trẻ, cao rái, khôi ngô. Tuy cuộc sống trong tù khổ ải, anh vẫn luôn tỏ vẻ vui tươi v́ anh cũng là Hướng đạo sinh nên tuân theo điều luật “gặp khó khăn vẫn vui tươi.” Qua anh, tôi học được rất nhiều điều. Anh dạy cho tôi hát các bài hát trong các phim The Inn of the Sixth Happiness, The Sound of Music, và các bản Thánh Ca… Tôi không nghe các tác giả nhắc đến Sư huynh trong các hồi kư. Hy vọng anh được thả về sớm hoặc ít ra cũng đúng hạn kỳ. Trung tá Vũ Đức Nghiêm[2], người nhạc sĩ tài hoa mà chúng ta từng thổn thức những câu hát mượt mà của ông qua giọng ca ngọt ngào của ca sĩ Thanh Lan: … Thương em dáng vai gầy xinh xinh Thương em mắt nai vàng long lanh Thương em tóc buông lơi dịu dàng Thương em mong manh, như một cành lan[3]
Anh từ trại Nam Hà ngoài Bắc chuyển về Xuân Phước vào khoảng 1980 cùng đợt với hàng trăm sĩ quan cấp tá khác. Anh em tại Phân trại E và B (về sau này) đă đón tiếp anh rất niềm nở. V́ ngoài tư cách một đàn anh trong quân đội, một nhạc sĩ tài hoa, anh c̣n là một người nhân hậu đáng mến mà đă quy kết xung quanh anh một nhóm tín hữu Tin Lành ngày đêm cùng cầu nguyện. Khi cao trào chống đối của anh em tù nhân lên cao, anh đă viết những bản nhạc xuất sắc để động viên. Tôi c̣n nhớ bài hát mà anh diễn tả tâm trạng của một người tù cám ơn người vợ yêu của ḿnh đă lặn lội núi non đi thăm chồng nơi trại tù xa xôi rừng thiêng nước độc. Bài hát có tựa đề Muôn Trùng Xa Em Về rất cảm động và được các anh em trong trại yêu thích.
Khi nụ hôn trao nhau vội vàng C̣n ấm chút hương môi Ta đă xa nhau rồi. Tay rời tay, con tim bồi hồi Sầu chất ngất chia phôi, Thương nhớ dâng nghẹn lời. Muôn trùng xa, em về Bụi mờ vương theo bước em đi Mặn nồng xưa ray rút cơn mê Đưa em về, biết nói ǵ, giây phút từ ly. Gượng cười bên nhau phút cuối, Nghẹn ngào bâng khuâng tiếc nuối Xót xa người nơi chân mây Âm thầm tháng năm lưu đày Miệng cười nhưng tim héo hắt Ngậm ngùi long lanh ánh mắt Dáng em, đường dài đơn côi, Vai gầy, chiếc bóng lẻ loi. Bao ngày qua, trong nơi ngục tù Chợt thoáng chút hương xưa Sao đắng cay không ngờ Thương tuổi xanh, phôi pha đợi chờ Đành sống với ước mơ Năm tháng trôi hững hờ Mong thời gian nhiệm mầu Làm người quên bao nỗi thương đau Lời thề xưa đêm sáng muôn sao Hẹn cùng ta muôn kiếp bên nhau Xin đợi chờ, anh sẽ về, chung sống dài lâu.
Một người, mà cái tên cũng đủ nói lên tấm ḷng của anh: Nguyễn Thi Ân[4]. Có lẽ khi song thân anh đặt tên cho anh, đă nh́n thấy ư muốn của Chúa (Ân là một tín hữu Tin Lành rất ngoan đạo) gửi gắm vào anh. Anh rất nhân hậu, điềm đạm và rộng răi chia sớt với hay bất cứ ai đến hỏi xin anh, dù thân hay sơ, hay dù chưa quen biết. Anh lại là một người ngoan đạo. Tôi chưa thấy anh bỏ một lần cầu nguyện nào trước các bữa ăn. Mỗi lần thăm nuôi, anh giao tất cả thức ăn cho bạn cùng mâm. Muốn cho ai th́ cho, muốn lấy ǵ ăn th́ lấy. Trong điều kiện thiếu thốn, đói khát ở trại tù, mà xử sự như thế thật hiếm có trên đời.
Tôi sực nhớ đến Thiếu tá Bửu Chí, làm đội trưởng đội nông nghiệp một thời gian dài. Anh hiền lành và vui vẻ. Tuy nhiên trong cương vị đội trưởng, anh phải thúc dục chúng tôi làm việc để khỏi bị rầy rà. Tôi rất ân hận v́ đă có vài lần nóng nảy xúc phạm anh. Giờ này trên hành tinh bao la này, không biết anh đang sống nơi đâu. Xin anh rộng ḷng tha thứ cho đứa em hỗn láo này. Tôi vẫn quư mến anh và cầu chúc anh một cuộc đời an lạc, phù hợp với bản chất hiền hoà của anh.. Vào những thời điểm tương đối dễ chịu, mỗi tố́ chúng tôi thường quây quần nghe kể chuyện. Có ba người nổi tiếng về tài kể chuyện. Một anh tù chính trị c̣n trẻ gốc ở Ban Mê Thuột mà tôi đă quên tên. Người thứ hai là Thiếu tá Phan Vĩnh Thánh (phi công L-19) chuyên kể chuyện vui. Người thứ ba là Vơ Xuân Hy[5]. Hy là cựu Hướng đạo sinh ở Huế; dáng cao cao, đẹp trai và dễ mến. Hy kể chuyện rất có duyên và hấp dẫn. Anh thường đệm hai tiếng “biết chưa” như ta thường dùng “you know” khi nói chuyện bằng Anh ngữ tại Hoa Kỳ. Từ truyện kiếm hiệp Kim Dung đến các loại truyện trinh thám kiểu Hoàng Hải Thủy. Anh thuộc ḷng từng tên nhân vật, từng chi tiết; mà có khi anh c̣n thêm thắt cho tăng phần hấp dẫn. Cả hai anh Thiên Ân và Xuân Hy đều là những sĩ quan bất khuất và tư cách vững vàng. Họ là những tấm gương cho nhiều anh em khác noi theo. Vào giữa năm 1980, trại cho gọi khoảng 40 người để yêu cầu viết lư lịch chi tiết, mà chúng tôi gọi đùa là “tiểu sử đời tù”. Họ cung cấp giấy bút không hạn chế, và cho thời gian cũng vô hạn: - Các anh cứ thư thả, suy nghĩ cho kỹ. Viết cho thật đầy đủ, thật chính xác, thật nhiều chi tiết về cuộc đời ḿnh từ khi sinh ra cho đến ngày hôm nay. Đừng giấu giếm điều ǵ, v́ cách mạng đă biết hết về các anh.
Biết hết rồi th́ bắt viết làm ǵ? Rơ xạo. Tuy nhiên, chúng tôi cũng cứ lợi dụng thời gian này để khỏi đi ra ngoài cuốc đất; ở trong trại lại có dịp “ca cóng”[6], tha hồ liên lạc tiếp xúc tṛ chuyện với các anh từ các nhà khác tụ họp lại. V́ không có ai theo dơi ra mặt, chúng tôi cứ lề mề lo chuyện riêng tư cho đến gần 9 giờ sáng, mới đem giấy viết ra bắt đầu. Đến chừng ba bốn giờ chiều là kéo nhau xuống nhà bếp đun nấu thức ăn. Chuyện thửa c̣n bé thơ rồi đi học tiểu học th́ mấy ai nhớ được. Thay v́ viết các chi tiết hệ trọng, chúng tôi viết ba hoa những đoạn văn tả cảnh, tả t́nh lê thê kéo dài hàng chục trang giấy. V́ trại ra chỉ tiêu mỗi ngày phải viết vài ba trang, tôi đă viết với khổ chữ lớn mà đứng xa chục mét vẫn có thể đọc được. Lại viết hàng đôi, nên mỗi trang nhiều lắm chừng vài chục chữ. Ba tuần sau, trại đă thấy âm mưu kéo dài của chúng tôi, nên bắt chúng tôi phải tập trung lại trong những nhà ăn và không cho đi đâu cả. Nhiều anh đă chán nản bỏ cuộc. Họ viết vội vàng cho xong rồi giao nộp. Từ gần bốn chục anh, chỉ c̣n lại khoảng năm anh. Cán bộ trực trại xách c̣ng vào c̣ng chân chúng tôi vào chân bàn từ sang cho đến chiều để chúng tôi khỏi chạy lui chạy tới, ca cóng linh tinh. Có lẽ tôi đă viết hơn trăm trang giấy mà vẫn chưa nói hết giai đoạn ở quân ngũ. Chỉ riêng việc tả cảnh Đà Lạt, tôi đă xài hết hơn mười trang giấy. Sau khoảng 40 ngày, chỉ c̣n lại Phạm Chí Thành và tôi. Rồi trại mất kiên nhẫn trước, ra lệnh chúng tôi ngưng viết, trở về đội đi lao động như cũ. Phạm Chí Thành đă ở xà lim nhiều hơn ở tập thể trong suốt tám năm tù, nhưng không biết tại sao đă không chịu đi định cư trong chương tŕnh Tị nạn HO. Đến nay, sau gần 20 năm, anh mới làm đơn xin đi. Nhưng do rắc rối nào đó, anh bị người phỏng vấn của Ủy Ban tái xét từ chối v́ họ nghi giấy tờ giả mạo.
Có lẽ chúng tôi phải soạn một bộ “Who’s Who in Prisons” mới kể hết những người tù công chính trong các trại giam của Cộng Sản, những người mà ngày nay gặp lại, chúng tôi rất hănh diện v́ được từng quen biết với họ. Điều đáng khâm phục không phải chỉ v́ họ công chính, bất khuất; mà v́ tấm ḷng son sắt đối với lư tưởng sống mà họ từng theo đuổi, cho dù trong hoàn cảnh hoàn toàn vô vọng. Ngày về giải phóng Sài G̣n đối với chúng tôi giờ chỉ c̣n trong ước mơ.
"Tôi đă gặp em, bỡ ngỡ t́nh cờ. Đôi mắt nai tơ, đến từ thành phố. Ngục tù tối tăm, nói với cuộc đời, Sài G̣n có vui, Sài G̣n có vui?
Em ngước nh́n tôi, cúi đầu nói nhỏ C̣n ǵ nữa đâu, thành phố mộng mơ Sài G̣n dấu yêu, vẫn thường nhắc nhở Sài G̣n chỉ vui khi các anh về
Tôi sẽ về, đ̣i lại quê hương đă mất, Tôi sẽ về, cùng em lau khô gịng nước mắt Đem tiếng hát cười, dâng đời khúc hát yêu thương Cám ơn Sài g̣n, Tôi sẽ trở về Tôi sẽ về, quỳ bên Thánh giá bao dung Tôi sẽ nguyện cầu, cho t́nh yêu và cuộc sống Tôi sẽ cùng em, dạo chơi phố xá thênh thang, Cám ơn Sài G̣n, tôi sẽ trở về Sài G̣n dấu yêu, Sài G̣n dấu yêu Tôi sẽ trở về"[7]
Phần 9: Tết Trong Tù
Người ta bảo rằng: Nhất nhật tại tù, Thiên thu tại ngoại. Tôi ở tù gần mười năm, từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 2 năm 1985, tổng cộng ba ngh́n bốn trăm sáu mươi lăm ngày, nhân lên một ngh́n, vị chi là ba triệu bốn trăm năm. Nếu bỏ đi con số lẻ chẳng thèm tính, th́ tôi đă sống lâu hơn cụ Bành Tổ bên Tàu. Đó là nhờ “lượng khoan hồng nhân đạo của Đảng và nhà nước Việt Nam Cộng Sản anh hùng, đỉnh cao nhất của trí tuệ loài người, lương tâm nhân loại, vân vân và vân vân.” Cũng nhờ ân điển vời vợi đó, anh em chúng tôi được hưởng trọn bao nhiêu cái tết tù cô đơn, đói khát tưởng ở tận cùng vực sâu của nhân loại, con người dù cơ hàn đến đâu cũng không mường tượng nổi. Ba năm tù đầu tiên, khi c̣n ở trong bàn tay quản lư của bộ đội, khách quan mà nói th́ cũng tương đối khá. V́ bộ đội Bắc Việt cũng chỉ là con em của dân, phải chịu thi hành nghĩa vụ quân sự mà đi chiến đấu chết thay cho bọn đồ tể Hà Nội. Tuy được giáo dục ḷng hận thù sâu sắc đối với anh em quân sĩ miền Nam, những cán binh cấp thấp vẫn tỏ ra chút ǵ phóng khoáng hơn. Nhất là sau thời gian tiếp xúc thấy anh em quân nhân miền Nam không giống như h́nh ảnh họ biết qua tuyên truyền của Hà Nội. Họ cư xử nhẹ nhàng hơn. Thực t́nh mà nói, th́ chính những người này cũng hiểu lầm về chính sách cải tạo của đảng, họ cho rằng chúng tôi là những học viên, chỉ phải chịu qua một thời gian ngắn là trở về cùng với họ chung lưng đấu cật xây dựng Tổ quốc, b́nh đẳng với họ. Chỉ có bọn lớn cấp, nham hiểm, tàn độc luôn úp mở về số phận chúng tôi. Tết đầu năm 1976, khi chúng tôi ở trại K2, Long Khánh, nơi trước đó là hậu cứ của một Trung đoàn thuộc Sư đoàn 18 BB. Một vụ nổ dữ dội xảy ra những ngày gần Tết phá hủy gần sạch các dăy nhà, gây thương vong cho một số anh em chúng tôi và bọn lính cai tù. Chúng tôi được gia đ́nh thăm viếng lần đầu tiên sau 8 tháng xa cách. Những xúc động, bồi hồi, hứa hẹn... Chúng tôi c̣n u mê, tin tưởng ngày về không c̣n xa, khuyến khích vợ con làm đơn từ lo bảo lănh để mau được về đoàn tụ, dù phải chịu đi lập nghiệp vùng kinh tế mới. Sau này, mới biết những lá đơn do vợ con ḿnh lặn lội đi các nơi, hao tốn bao thời giờ, tiền bạc (Thuở đó Cộng sàn sắp xếp lại các đơn vị hành chánh; muốn chứng một lá đơn có khi phải vượt hàng trăm cây số, mất cả tuần lễ) được chúng xử dụng làm toilet paper. Ôi bao t́nh cảm, nỗi niềm hy vọng đặt vào tờ giấy mỏng manh đă bị bọn thú vật trắng trợn dày đạp lên. Ba năm đầu, gian khổ nhiều, có chết chóc, thương tật do phải làm những công tác lao động hiểm nghèo, nhưng về ăn uống, tương đối có khá. Ngày Tết, có dủ thịt cá, bánh trái, thuốc lá và nhất là có chút th́ giờ nhàn rỗi để cùng nhau tâm sự, ôn kể chuyện gia đ́nh, trao đổi nhau ước vọng ngày xuân. Nhưng từ sau Tết 1978, khi bộ đội bàn giao quyền quản lư cho bọn ḅ vàng Công an th́ chúng tôi như bước sụp một bước dài xuống tận cùng mười tầng địa ngục. Đến đây, trang sử cuộc đời chúng tôi đă qua một bước ngoặt vĩ đại, an bài với bao cay đắng, tuyệt vọng. Ngày về sẽ là ảo ảnh, vợ con từ đây ngàn đời vĩnh biệt. Tuổi thanh xuân hoa mộng từ đây bị chôn vùi nơi những vùng rừng thiêng, nước độc. Bọn cán bộ nói thẳng ra với chúng tôi: “Khi nào ḅ đực đẻ con th́ các anh được về”. Chế độ tù khắc nghiệt nhưng không làm chúng tôi đau đớn bằng suy nghĩ về gia đ́nh. Vợ con bé bỏng, mẹ già gần đất xa trời từ nay chỉ c̣n trong hoài niệm. Ngoài cái khổ cực về thể xác, chúng tôi c̣n chịu cái đau đớn tủi nhục của sự đối xử không nhân tính của bọn thất học vô loài. Chúng tước đoạt của chúng tôi từ tư trang, thực phẩm cho đến nhân phẩm. Chúng đày đoạ chúng tôi tệ hơn đối với loài súc vật, giam đói bỏ khát, và đem chút khoai ḿ ra khuyến dụ ḷng chính trực, lương tâm của chúng tôi. Chúng tôi thắng, trong cuộc đấu tranh cam go này, khi sức chịu đựng đến tận cùng mà một con người xương thịt có thể chịu đựng nổi. Biên giới của người anh hùng và kẻ hèn mạt là ở đây, được thử thách bằng miếng cơm thừa của bọn cai ngục.
Ngày đầu tiên được chuyển ra trại giam công an, mở màn là cuộc khám xét hành trang tận t́nh. Chúng tịch thu tất cả, tất cả, chỉ trừ chiếc chiếu rách, vài bộ áo quần tù in chằng chịt dấu cải tạo. Thuốc men, thực phẩm bị tịch thu ráo trọi. Để rồi sau đó, chúng phát ngày hai bữa khoai ḿ độc ăn không đủ bén môi với một muỗng nước muối. Ăn như thế, mà hàng ngày mười tiếng đồng hồ phơi ḿnh ngoài nắng gắt hay những cơn mưa triền miên của miền Trung nghèo, khắc nghiệt, lao động cật lực với những chỉ tiêu phi lư mà bọn cán bộ đặt ra. Dĩ nhiên chúng tôi biết cách đối phó để khỏi đem sức tàn của ḿnh phục vụ kẻ thù. Lúc th́ giả đau, lúc th́ đồng ḷng lăng công, phá hoại hoa màu, dụng cụ...Sau cơn đói kéo dài cho đến ngày gần Tết, bọn cán bộ, qua các tên tay sai nhà trưởng, thi đua trật tự, cho biết: - Tết đến, Rờ Nượng khoan hồng Rân đạo (lại khoan hồng nhân đạo!) và sự quan tâm của Nănh đạo, các anh sẽ được ăn Tết đầy đủ. Trại cho mổ hai con ḅ, ba con Nợn, có bánh đa, một gói thuốc Ná xây Rựng, kẹo Nạc, Rưa cải… Nghe mà thèm chảy nước miếng. Chiều ba mươi, nhà bếp tấp nập, tiếng dao thớt cụp cụp nghe sao mà êm ái lạ, hương thơm bay ngào ngạt. Ai nấy chuẩn bị chén bát để lănh phần. Ḱa hai anh trực ngày đang khiêng thức ăn về, tiếng xôn xao nổi lên, chúng tôi bắt bạn với nhau để cùng chia xẻ cái Tết tù hẩm hiu. Nhưng buồn sao và thất vọng sao, khi trong cái thau cỡ số mười chỉ lỏng bỏng những nước và nước; tận đáy thau có vài miếng da ḅ cắt như miếng mứt dừa. Thau thịt “nợn” th́ gồm những miếng xương, tí “ṇng”, tí huyết. Thau “rưa cải” th́ ḷng tḥng nguyên cây cải dài từ ngọn cho đến cuống rễ. V́ muốn đạt chỉ tiêu về cân lượng, bọn Cộng Sảnchỉ cho thu hoạch cây cải sau khi nó ra hoa, đem về ngâm nguyên cây trong hồ nước muối, sau khi nhúng vào một cái chảo gọi là rửa qua. Quí bạn có khi nào nhai thử miếng vỏ xe đạp th́ sẽ h́nh dung chúng tôi đă ăn da ḅ như thế nào. Dưa cải th́ thật sự nó dai nhách như cái bao tải, nhai qua nhai lại cho có chút nước xong nhả ra như các bà cụ già nhai trầu. Chỉ có cục xương heo, gặm cho hết phần gân có dính tí mỡ, tí thịt, rồi cất đi. Ngày ngày cho thêm muối, kho lui kho tới, và sau vài tuần cố gấng dùng mấy cái răng hàm đă khập khễnh, tiêu hoá luôn phần mà cả con chó đói cũng chê. Chắc quí vị sẽ hỏi: “thế bao nhiêu thịt đi đâu?”. Thưa, thịt ngon th́ giao cho nhà bếp tiểu táo của bọn chỉ huy trại, thịt vừa th́ đại táo của bọn cán bộ, thịt bạc nhạc th́ bọn trật tự thi đua, nhà bếp thiếm xực. Sau năm đó, hàng năm bọn Việt cộng cho phép gia đ́nh ra thăm định kỳ nửa năm một lần, và gửi quà theo đường bưu điện hàng tháng v́ lư do được giải thích như sau: - Nhà Lước Lói chung, và Trại Lói riêng có nhiều khó khăn, không No cho các anh đầy đủ, v́ thế cho phép các anh được nhận quà để có sức khoẻ.
Thế là Tết đến, một số nhỏ các anh có gia đ́nh tương đối khá ăn Tết rất ra chi. Họ tụ tập với nhau từng nhóm năm, mười người hùn hạp làm đủ các thứ, mứt bánh, xào nấu từ mười ngày trước Tết, kéo dài cả mười ngày sau Tết. Chỉ tội nghiệp cho các anh mồ côi, nằm đắp chiếc chăn rách, ôm bụng đói nghe những tiếng nhai nuốt nhồm nhoàm, ngửi hương vị thơm tho của cá thịt mà tủi cho thân phận ḿnh. Chỉ những anh em nghèo dễ dàng chia sẻ với nhau. Thường, anh em chúng tôi ngồi tụm với nhau, kể ra vô số món ăn ngon do ḿnh tự sáng chế, ôi thôi dủ loại cao lương mỹ vị, chúng tôi gọi là ăn hàm thụ. Nhớ nhất là Phan công Danh, một nhạc sĩ, họa sĩ tài ba, chiều chiều làm bộ thơ thẩn gần chỗ hội trường, thấy vắng đôi mắt cú vọ của bọn trật tự, là nhanh như cắt, vặt lấy vặt để mớ cỏ kiểng trồng làm hàng rào. Đem về, ngâm với nước muối làm thành một thứ Salad độn cho đầy cái bụng lép. Những anh bạo hơn th́ làm bộ khai bệnh, trong lúc ngồi chờ xin thuốc, vọt ra vườn thuốc Nam hái trộm các loại rau do bọn y tá trồng vừa làm thuốc “dân tộc” vừa để cải thiện bữa ăn của họ. Gần ngày Tết, bọn cán bộ thường yêu cầu anh em làm cho chúng lồng đèn. Tôi vốn khéo tay, được đội nhờ ở nhà làm, khỏi ra lao động. Dùng bất cứ thứ ǵ kiếm được, v́ bọn cán cũng nghèo, không mua nổi giấy màu, mực viết. Màu th́ dùng lá cây làm màu xanh, hoa mồng tơi làm màu tím, thuốc đỏ làm màu đỏ, kí ninh làm màu vàng. Giấy th́ lượm lặt đủ thứ dán lại. Tôi ở nhà, lợi dụng thời gian nghỉ ngơi, lén nấu nướng ăn uống, lâu lâu bày giấy, hồ ra kẻo tên cán nóng ruột ṃ vào xem. Ngày giao nộp, tên cán vui vẻ cho anh em nhổ khoai ḿ, nấu một nồi ăn “bồi dưỡng” tại nơi lao động, trong khi anh ta vào trại để lấy lồng đèn. Tội nghiệp, khi tôi đưa cho anh cái đèn, vẻ thất vọng hiện lên rơ rệt, v́ cái lồng đèn méo mó, màu th́ nguệch ngoạc, tối tăm. Anh cán bộ vội trở ra, trút cơn giận dữ đạp đổ thùng khoai ḿ sắp chín. Thế là ba mươi anh em đành tiu nghỉu nh́n những củ ḿ H 34 lăn lóc giữa đất đá. Sau này một vài anh em trách tôi, nhưng biết làm sao!!! [1] Vơ Xuân Hy ở California, Cái Trọng Ty ở Houston [2] Qua Hoàng Lan Chi của đài VOVN, tôi đă tiếp xúc được với anh Nghiêm hiện ở California. [3] Nhạc phẩm Gọi Người Yêu Dấu. [4] Nguyễn Thi Ân hiện ở Utah [5] Vơ Xuân Hy hiện ở Westminster, California [6] Ca cóng chỉ việc nấu nướng. [7] Một đoạn trong bài hát “Sài G̣n Chỉ Vui Khi Các Anh Về” của Duy Trác.
|
|||
|
|
||||