Michael Do

Cuối Tầng Địa Ngục

 

 
 
 

Trang Chính

Truyện Dịch

Viết Về Lính

Quê Hương

Chuyện Tù

Nhận Diện Kẻ Thù

Chuyện Người

Các Bản Tin

Nhận Xét

Hội Luận

Tác Phẩm

Tiểu Sử

Gia Đ́nh

Trang Anh Ngữ

 

 

Đỗ Văn Phúc

 

Phần 10: Tù Trong Tù

 

Trong căn pḥng tối mịt mù này, tôi không c̣n ư thức rơ rệt về thời gian. Tôi chẳng nhớ đă bị đưa vào cùm nơi đây bao nhiêu ngày rồi. Dễ cũng đến hơn hai tháng chứ không ít đâu. Những người tù thay phiên nhau vào ra ở pḥng hai bên đă nhiều bận mà tôi th́ vẫn cứ trụ tŕ trên chiếc bệ xi măng lạnh cóng này; với hai cổ chân xích cứng vào thanh sắt 12 li bằng hai chiếc cùm xoắn oan nghiệt.

Mỗi ngày, tên cai tù cùng một tên trật tự vào đưa cơm một lần. Theo thông lệ là phần ăn trưa. Có lúc chúng đem vào khoảng 9 giờ sáng, khi nhà bếp vừa ra chảo bánh khoai ḿ đầu tiên. Có khi măi đến giờ lao động buổi chiều mới nghe tiếng dép lẹp kẹp của chúng. Hai mươi bốn tiếng đồng hồ chờ đợi, chỉ để nhận khi th́ vài lát khoai ḿ luộc, khi th́ một góc chiếc bánh cũng bằng bột khoai ḿ chỉ nhỏ bằng phần tư bao thuốc lá. Chẳng phải v́ đói mà chúng tôi mong sớm đến bữa ăn đâu. Chẳng qua là muốn cho ngày tháng qua mau kẻo nằm măi trong xà lim cũng buồn chán và kiệt sức quá đỗi.

 

Tôi vào ra xà lim như người ta đi chợ. Ở cái trại Xuân Phước này, một chút vi phạm cũng đủ là cớ để bọn cai tù đọc bản án cùm 7 ngày, mười lăm ngày như chơi. Chỉ cần tên ăng ten nào đó hót bậy một câu với cán bộ quản giáo, là thấy trước mắt hàng tháng dài trong nhà đá lạnh lẽo. Phân trại E chứa khoảng gần 700 tù nhân cải tạo. Đa số là thành phần quân nhân; có khoảng mười lăm phần trăm là các anh bị bắt sau 1975 do các hoạt động chống đối. Một số thuộc nhóm Vinh Sơn, một số thuộc lực lương Fulro bị bắt từ các tỉnh Tây Nguyên đưa về. Xung quanh phân trại E là các phân trại chứa tù h́nh sự có án từ mười lăm, 20 năm đến chung thân, tử h́nh. Đi sâu vào phía núi khoảng 10 cây số là phân trại B, giam giữ các quân cán chính mà theo Cộng Sản là thành phần nguy hiểm nhất. Tôi đă ở phân trại E gần năm năm, sau ba năm chuyển ṿng ṿng từ các trại ở Long Khánh, Biên Hoà ra Hàm Tân. Cứ mỗi lần chuyển trại là thấy bị đẩy xuống thêm một tầng của địa ngục; là thấy ngày về một xa xôi, và đi dần đến tuyệt vọng. Coi như chôn chặt cuộc dời trong cái thung lũng khỉ ho c̣ gáy này thôi. Ba năm sau cùng, tôi cũng đươc ưu ái cho vào phân trại B để nếm cho đủ mùi khổ nhục trần gian trước khi lănh tờ giấy ra trại trở về với gia đ́nh sau đúng 10 năm tṛn làm kiếp tù.

Mấy ngày trước đây, tên cán bộ an ninh vào mở cùm dẫn tôi ra làm việc. Làm việc có nghĩa là bị hỏi cung trong một không khí vừa hăm doạ vừa vuốt ve. Khi thanh sắt vừa được kéo ra, tôi nhanh chóng tháo cùm để cho hai chân vội vàng hưởng ngay cái giây phút nhẹ nhàng hiếm có. Chiếc cùm do chính tên cán bộ lựa chọn sao cho siết cứng vào cổ chân, đă làm rách da ở phía nhượng chân tôi. Chỉ nửa giờ sau khi bị cùm là có ngay cảm giác đau đớn tột độ. Hai ḷng bàn chân úp sát vào vách không cho phép tù nhân ngồi thẳng dậy. Chỉ có hai vị thế. Một là nằm dài ra, hai là gượng nhổm lên một chút. Sức nặng của hai chân t́ lên thanh sắt nhỏ 10 li, dần dần như một khối đá nặng làm tăng lên sự đau đớn. Cơn đau này kéo dài ít lắm vài tuần lễ trước khi cơn đói và lạnh làm cho tù nhân gầy guộc nhanh chóng để cảm nhận sự lỏng lẻo của chiếc cùm.

 

Bị đưa ra hỏi cung cũng là một điều may mắn. Không cần biết những ǵ đang chờ đợi trong căn pḥng u ám kia, sau khuôn mặt gian xảo, độc ác của những tên cán bộ an ninh trại. Chỉ cần cho đôi chân được thoải mái vài giờ đồng hồ. Được ra ngoài nh́n thấy ánh sáng mặt trời, hít thở chút không khí trong lành, và nh́n thấy được sinh hoạt của anh em là vui lắm rồi. Nhất là một dịp để vục mặt xuống uống cho đă thèm từ bất cứ nguồn nước nào. Có khi là vũng nước đọng nơi góc tường, có khi là từ chảo nước rửa cạnh nhà bếp. Cũng có khi may mắn, ngắt đươc cọng rau sam, rau dệu ven đường. Đến rau trai dai nhách cũng không chừa.

Tuy có các vườn rau bát ngát xung quanh trại do anh em tù ngày đêm chăm bón, nhưng suốt năm dài, hoạ hoằn lắm chỉ được ăn vài ba bữa có rau tươi. Mà lại là các ngọn rau đă già dai như giẻ rách. Thứ nào non mềm th́ thu hoạch đưa ra nhà bếp cán bộ hết rồi. Anh em tù phải tự cải thiện lấy bằng các loại rau rừng hay lẹ tay chôm nhẹ từ các luống rau. Đa phần là chẳng rửa ráy ǵ, cho nhanh vào miệng nuốt vội kẻo bị cán bộ bắt gặp là mang hoạ vào thân. Người bên ngoài đă thế, th́ người trong xà lim càng thảm hại hơn. Chất rau, chất ngọt, chất thịt là những thứ chỉ có trong giấc mơ của người tù. Ngay cả nước uống, tù nằm xà lim cũng chỉ được cấp cho vừa đủ nhấp thấm môi. Mỗi ngày chừng một phần tư lon nước, đong ra được ba bốn muỗng canh thôi.

V́ thế, cứ được mở cùm ra ngoài là vui rồi. Đối phó ra sao ta sẽ liệu tính. Phải t́m cách để kéo dài thời gian hỏi cung; phải t́m cớ để được ra thêm, dù phải căng thẳng chuẩn bị để khỏi bị sơ hở, sa bẫy bọn an ninh mà hại cho bạn bè hay chính bản thân ḿnh.

 

Chút kinh nghiệm mà anh em chúng tôi truyền nhau là cứ chối, chối phăng tất cả, ngay dù có bị chúng nó nắm được đầu dây mối nhợ. V́ có nhận tội, th́ cũng bị cùm tiếp tục để cho chúng khai thác dài dài để mong truy ra thêm nhiều vấn đề khác. Mà có chối th́ cũng bị giam thêm cho đến khi nào chúng thấy không thể khai thác ǵ được. Khi thân xác sắp kiệt quệ, nghĩa là khi tên cán bộ đánh giá cái thân tàn ma dại kia không cho ra th́ sớm muộn cũng bị tử thần lôi đi. Đó là lúc chúng vêu mồm khoe khoang cái nhân đạo của đảng, của cách mạng cho ra khỏi cùm để học tập, lao động cho sớm tiến bộ. Chẳng phải chúng coi trọng cái sinh mạng khốn khổ của người tù đâu. Nhưng có những cái chết mà chúng thấy  không cần thiết bằng để cho sống lây lất mà lao động làm tôi mọi cho chúng cũng như một thứ lợi khí tuyên truyền để làm ổn định trật tự trong trại giam.

Lần nào ra làm việc th́ tên cán bộ cũng cho người đem vào một bát cơm trắng, có chút thịt từ nhà bếp cán bộ. Đặc biệt là có vài điếu thuốc thơm. Có anh em tù nhân khẳng khái không thèm nếm bát cơm ngon lành đó. Có anh cho rằng ăn th́ ăn, mà cứng đầu th́ cứ cứng đầu. Tội ǵ không ăn để cho cơ thể có chút sinh lực mà chịu đựng. Tôi đă ra làm việc tổng cộng ba lần trong thời gian bị cùm ba tháng vào dịp Giáng sinh năm 1979 v́ tội chống đối. Ngày đầu tiên vào cùm, chúng lột sạch trên người chỉ chừa bộ áo quần tù bằng vải mỏng màu xám tro. Không chăn, không chiếu, không cả chiếc mù xoa, đôi dép. Trong cơn lạnh mùa đông của núi rừng, ngày đêm co ro run cầm cập. Cố nhắm mắt cho qua ngày đêm dài dằng dặc cũng không xong. Tấm lưng chịu lạnh riết rồi cơ quan bài tiết cũng bị hư luôn, không tự kiểm soát được việc tiểu tiện. Tự dưng thấy ướt mông là biết ḿnh đái; thấy chất nhờn chảy ra trong quần là biết ḿnh đă xuất tinh. Lần đầu, tên cán bộ Hiến gọi tôi ra khoảng mười lăm ngày sau khi vào xà lim, tôi đă đem chuyện Hồ Chí Minh cởi áo lạnh cho tù binh Pháp mà thuyết phục y; so sánh giữa kẻ thù ngoại chủng và người “trại viên cải tạo” đồng màu da để mong y có chút nhân tố nào c̣n sót lại trong thâm tâm. Đêm đó, khi trở về nhà cùm, tôi được tên trật tự quẳng vào cho chiếc chiếu. Đó là giây phút hạnh phúc tuyệt vời nhất. Hoá ra hạnh phúc của con người thật đơn giản và mang tính tương đối. Những ai sống sang giàu, nhung lụa có bao giờ tưởng tượng được một muỗng cơm, một bát nước, một tấm chiếu rách là cả một thiên đường của những người cùng khổ.

Nhờ tấm chiếu đó, tôi yên thân được thêm một thời gian để chịu đựng cơn đói và khát. Hai lần ra làm việc sau này cũng chẳng bên nào thắng lợi. Tôi chẳng đ̣i hỏi được thêm ǵ, cũng chẳng nhường một bước nào. V́ quả t́nh th́ có ǵ mà khai với báo ngoài việc tôi đă hành động chống đối và chịu sự trừng phạt đến mức này.  Việc anh em bên ngoài âm thầm tổ chức sinh hoạt Giáng Sinh, viết khẩu hiệu dán đầy pḥng giam, tôi biết rơ các bạn tôi ai hô, ai ứng. Chẳng Phạm Đức Nh́, Nguyễn Tú Cường, th́ Hoàng Ngọc Thủy, Phạm Văn Hải, Huỳnh Văn Bá Vạn chứ c̣n ai vào đây. Nhưng tôi nằm trong cùm th́ tại sao mà hỏi tôi? Mà nếu tôi ở ngoài th́ có bắn chết, anh em tôi cũng chẳng khai nhau ra. Ai xui bị tó th́ rán chịu một ḿnh. Tụi Quang què, Cao H. V., Dương Đ. M. th́ bị coi như chó ghẻ; ai chơi với chúng mà chúng biết đầu dây mối nhợ. Tiếc là những năm sau cùng, Ngô Văn L. phản thùng. Từ nhân vật tranh đấu rất anh dũng đă trở cờ làm ăng ten khi bị đưa vào phân trại B. Có lẽ thời gian tù lâu quá làm cho anh ta mỏi ṃn, tưởng có thể lập công mà về sớm.

 

Phần 11: Mưu Sinh Trong Trại Tù

 

Khó mà nói cho thật hết hay thật rơ ràng để cho mọi người thấy được những đày ải, khổ nhục mà những người tù nhân phải chịu đựng nhiều năm trong các trại tù cải tạo sau khi miền Nam bị Bắc Việt chiếm đoạt. Những người bị giam giữ này lại không phải là thành phần h́nh sự, can án cướp của giết người; mà là hàng trăm ngàn quân nhân, viên chức từng phục vụ trong chính quyền Cộng hoà Việt Nam đối kháng với Cộng Sản miền Bắc.  Họ được Cộng Sản gọi bằng mỹ danh là các trại viên học tập cải tạo, nhưng thực ra là các tù khổ sai vô hạn định mà chủ trương cải tạo chỉ là một sự trả thù dă man của những người thắng thế đối với kẻ bại trận.

 

Ai đă đọc qua cuốn sách Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago) của Alexander Solzhenitsyn hay đă xem cuốn phim Papillon do tài tử lừng danh Steve McQueen đóng th́ chỉ mới h́nh dung được một phần những điều mà những người tù tại Việt Nam sau 1975 phải chịu đưng. Tuy rằng hàng trăm trại cải tạo dựng nên từ Bắc vào Nam vào cuối thế kỷ 20, nhưng tất cả đều mang bản chất man rợ của thời Trung cổ và những sự tra tấn, khủng bố tinh vi hơn của Gestapo thời Đức Quốc Xă.

Ngoài con số ngàn đă chết trong tù v́ bệnh hoạn không thuốc men chữa chạy, v́ kiệt sức do lao động khổ sai mà không có bồi dưỡng, v́ bị tra tấn hành hạ, biệt giam; những người tù c̣n lại đă sống sót do nuôi dưỡng một tinh thần lạc quan, hy vọng và biết cách đối phó trong từng trường hợp khó khăn.

Chúng tôi là 5 anh em sĩ quan từng sinh hoạt trong các đoàn hướng đạo Huế cùng chung một phân trại E, trại A-20 Xuân Phước. Đó là Vơ Trịnh Xuân, Cái Trọng Ty, Vơ Xuân Hy, Trần Văn Chung và tôi. Không nhớ trong trường hợp nào, và lúc nào anh em chúng tôi đă nhận ra nhau. Có lẽ do cái phong thái rất Hướng đạo của nhau chăng? Chúng tôi chưa hề quen nhau ngoài đời cũ. Nhưng một khi đă đưa những bàn tay trái nắm chặt lấy nhau, chúng tôi liền trở thành thân tín và sẵn sàng thổ lộ cho nhau những suy tư mà không hề e dè lo lắng như khi nói chuyện với các anh em khác. Trong những thời điểm khủng bố căng thẳng nhất, chúng tôi chưa thấy anh em hướng đạo nào làm điều sai quấy vừa về đạo lư, vừa về lư tưởng chính trị. Chưa thấy anh em nào bán rẻ tư cách v́ miếng ăn trong khi cơn đói, thèm vật vă. Chưa thấy anh em nào chịu quỵ lụy để được hưởng đặc ân từ cán bộ nhà giam. Chúng tôi đă thực hiện trọn vẹn ba lời hứa và 10 điều luật Hướng đạo. Và chính nhờ sự giáo dục tinh thần và kỹ năng của Hướng đạo, mà chúng tôi đă vượt thắng những trở ngại thách thức mà đủ đánh gục những con người trung b́nh.

 

Các em tráng sinh và thiếu sinh tại Hoa Kỳ chắc không có dịp nào va chạm những khó khăn quá mức để cần học hỏi kinh nghiệm của chúng tôi ở trong tù. Nhưng tưởng cũng nên kể ra để ôn lại chút kỷ niệm mưu sinh trong trại cải tạo để các em thấy được khả năng ứng phó của con người trong những điều kiện ngặt nghèo nhất.

Trong tù th́ đói triền miên năm tháng. Chất bột căn bản là khoai ḿ công nghiệp giă nhỏ đúc thành bánh cỡ bằng gói thuốc lá, hay xắt lát và phơi khô. Ngày có hai bữa mỗi lần là một cái bánh hoặc chục lát khoai ḿ đă luộc chín. Buổi sáng trước giờ di lao động, tù được phát chút ít lát khoai ḿ luộc. Tuy nhiên, tiêu chuẩn không đồng đều, mà tùy thuộc vào sự đánh giá hàng tháng của cai tù về các mặt lao động và chấp hành nội quy. Có người ăn một cái bánh rưỡi, có người chỉ được ba phần tư cái bánh. Thức ăn th́ quanh năm chỉ toàn là nước muối. Không rau, không thịt cá trừ ba ngày lễ chính: Tết nguyên đán, 2 tháng Chín, và 30 tháng Tư.

Đói như thế nên tù nhân phải t́m mọi cách để tự “cải thiện”. Hoặc lén bắt con nhái, con rắn, chuột; hoặc vặt trộm mớ rau, t́m hái các loại cỏ ăn được. Nhưng phải kín đáo đừng để bị cai tù bắt được.

Việc cho thăm nuôi hay nhận quà từ gia đ́nh không phải là quyền lợi của tù nhân như thường thấy ở các nước tự do. Đó là một thứ ân huệ mà ban quản lư trại tù dùng để ràng buộc tù nhân phải làm việc hay tuân thủ các quy định của trại. Người tù b́nh thường, không có vấn đề với trại sẽ được phép nhận 10 kí lô quà mỗi tháng, hay được gặp gia đ́nh hai lần trong một năm. Dĩ nhiên với điều kiện là gia đ́nh có đủ khả năng kinh tế để mua quà hay đi thăm.

Dù có quà từ gia đ́nh hay không, hầu như tất cả tù nhân đều có nhu cầu phải nấu nướng. Người có quà th́ nấu thêm chút cơm khô, hâm nóng thịt cá. Người không có quà (chúng tôi gọi đùa là Con Bà Phước) th́ luộc chút rau, hay nấu giùm cho các anh có của để được chia chút thức ăn. Khi ra hiện trường lao động, th́ cho cơm khô hay thức ăn vào một cái lon gô; đặt ké vào bếp lửa của anh tù nhân nấu nước sôi cho đội tù. Khi về trại, th́ phải nấu lén. V́ trại cấm hẳn việc nấu nướng trong nhà giam.

Tuy trại có quy định cho phép nấu nướng vào ngày chủ nhật mỗi tuần tại một nơi nào đó ngoài phạm vi pḥng giam. Quy định này cũng thất thường như mưa nắng.

 

Nấu nướng ngoài trời ngày chủ nhật tuy được phép cũng chẳng thoải mái như khi chúng ta đi cắm trại đâu. Th́ giờ rất eo hẹp, chỉ vài mươi phút trước khi điểm danh tối mà phải làm sao cho chín nồi cơm, soong thịt. Có lúc trời mưa như trút, gió thổi ào ào tứ bề. Mặt đất ủng nước, củi vụn ướt như vừa vớt dưới sông lên. Lửa mồi từ cục than lấy ở bếp trại, chuyền tay nhau. Vừa nhóm được chút lửa là hơi nước từ mặt đất bốc lên làm tắt ngúm. Chúng tôi phải lót một lớp dày các thứ khô ráo, chọn ba cục đá làm chân ḷ. Một hai anh cầm tấm nylon che phía trên để một anh ngồi chồm hổm bên dưới ph́ pḥ thổi lửa. Khói lùa vào mắt cay xè nhưng vẫn cố gầy lên ngọn lửa bằng cách châm thêm chất đốt bằng giấy báo hay túi nhựa.  Vừa thổi, vừa quạt, vừa lau nước mắt. Nước mưa cứ tuôn ào xuống ướt đẫm cả áo quần. Những kỹ năng học được từ thời thiếu niên đi Hướng Đạo hay bài mưu sinh học được ở quân trường nay mới có dịp đem ra áp dụng thực tế. Ngoài chiến trường có cam go cũng không đến nổi như trong trại tù, vả lại đă có anh lính hoả đàu quân lo cho rồi.

Độc đáo nhất là nấu lén trong nhà. Anh em chúng tôi đều tự làm lấy mỗi người ít nhất một cái ḷ vừa đủ cho cái lon guigoz. Lon guigoz là thứ nồi thông dụng nhất, có thể đun nước, nấu cơm hay kho thịt cá. Tù nhân làm một cái đai sắt và quai xách gắn vào khoảng phía trên thành lon. Một lon guigoz cơm là phần ăn một ngày để tạm có sức khỏe chịu đựng. Chúng tôi dùng một cái lon có đường kính lớn hơn như cỡ lon cà phê thường thấy hiện nay tại các siêu thị tại Mỹ để làm ḷ. Có hai loại ḷ: ḷ than, ḷ đun hoả tốc. Than vụn th́ ăn cắp từ bếp trại, rưới nước cho tắt đi rồi cất dấu trong nhà giam. Hoả tốc là loại nhiên liệu bằng bao nhựa gói đồ cuốn bên ngoài một nùi giẻ. Thứ nhiên liệu này rất dễ cháy, cho nhiệt cao, nhưng bốc khói đen ng̣m và khét lẹt, và phải được khều luôn để khỏi bị tắt ngũm. Lỡ xui lửa tắt, khói sẽ bay đầy nhà, mùi khét toả rất xa. Vô t́nh như thể “lạy ông tôi ở bụi này” báo động cho bọn trật tự thi đua t́m đến để bắt quả tang.

Những người tù, khi nấu lén trong nhà thường thủ sẵn một xô đầy nước lạnh ở một góc nhà. Được báo động là nhúng cả cái ḷ dang cháy vào xô nước. Có anh đẩy cái ḷ than vào dưới cái đ̣n rồi ngồi lên, làm mặt tỉnh táo đang chơi cờ hay làm một thứ ǵ đó vô hại. Lửa nóng dưới đít mà phải gồng ḿnh chịu trận cho đến khi hết sự hiểm nguy. Tôi cũng nhiều lần hú vía. Một hôm đang đun một lon nước sôi để nấu mấy vắt ḿ th́ nghe tiếng tên trật tự vang lên ngoài sân:

- Có mùi hoả tốc, lại có anh nào nấu nướng linh tinh trong nhà.

Không kịp nhảy xuống dấu ḷ (và cũng quưnh quá chẳng biết dấu vào đâu), tôi cho tất cả vừa ḷ vừa lon nước gần sôi vào cái bao bàng (loại túi xách đan bằng lá các bà đi buôn thường dùng ở Việt Nam) và treo lên xà nhà. Khi tên trật tự đến gần, tôi đang làm bộ căng thẳng với một nước cờ chiếu bí. Trực, tên trật tự, dừng lại xem vừa hỏi:

- Ai đang nấu hoả tốc? Mùi khói bay đầy nhà.

Chẳng ai lên tiếng trả lời. Trực nh́n soi mói từng góc nhà vẫn không thấy ǵ trong khi tôi ngồi bồn chồn v́ ḷ hỏa tốc có thể tắt ngấm bất cứ lúc nào; và nếu thế th́ khói sẽ bay tuôn ra như khói tàu lửa. Một phần sợ cái ḷ nghiêng, nhựa và lửa sẽ tràn ra cháy luôn cái túi; hoặc nước sôi trào ra sẽ tạo nên âm thanh xèo xèo là thua cuộc.

Tên Trực t́m một lúc, không t́m thấy ǵ và cũng không hào hứng quan sát bàn cờ mà chẳng ai động quân nên bỏ đi sau khi buông một vài đe dọa.

Ngoài cái nguy cơ dễ bị phát hiện, ḷ hoả tốc c̣n mang lại nguy hại cho sức khoẻ. V́ mỗi ngày phải hít vào buổng phổi loại khói độc do sự cháy của chất hoá học tổng hợp. Tuy nhiên cái đói là nguy cơ truớc mắt. Nỗi nguy xa không thắng được cái nguy gần. Vả lại, trong khoàn cảnh khắc nghiệt này, liệu chúng tôi có sống sót cho đến ngày nhận lănh cái hậu quả của khói độc không mà lo với lắng!

Có ḷ, đă giấu giếm hàng ngày, rồi phải nghĩ cách giữ nó khỏi bị tịch thu mỗi khi cán bộ khám pḥng. Việc khám pḥng xẩy ra hàng tháng, thường là bất chợt để tù nhân không pḥng bị kịp. Đang tập trung ở sân trại chờ đi lao động, th́ bị gọi lần lượt từng nhà trở về thu xếp hết hành trang đem ra sân. Tù nhân ngồi thành hai, ba dăy. Trải manh chiếu hay tấm vải ra, lôi hết áo quần đồ đạc như bày bán chợ trời, rồi ngồi chờ cai tù và trật tự đến khám từng người. Trong lúc đó, vài tên trật tự và tù h́nh sự sẽ vào nhà, lục lọi không chừa một khe hở để t́m xem tù nhân có giấu giếm ǵ không. Một viên thuốc tây nhỏ bằng nửa hạt đậu cũng không thoát với chúng nó. Ngoài sân, cai tù và trật tự nắn nót từng món đồ, vạch miệng, sờ nách, lần háng để khám xét. Chúng tịch thu các thứ bén nhọn, bật lửa, sách vở, những thức ăn bị cấm, và các loại không được phép dùng trong nhà giam. Có khi chúng tịch thu luôn những vật đă cho phép nhận, như cơm khô, soong nồi, viện lư do t́nh h́nh an ninh thay đổi. Nói chung, chúng khám xét và tịch thu rất tuỳ tiện. Là thân tù, chỉ biết cam chịu, không biết khiếu nại cùng ai.

 

Ấy thế mà nhiều anh em đă giữ được cái ḷ, ngay cả loại ḷ lớn kê được cái nồi hai, nồi ba. Làm thế nào ư? Cứ tuân theo nguyên tắc t́nh báo: “Chỗ sơ hở nhất chính là nơi an toàn nhất.” Tôi đă để cái ḷ ch́nh ́nh ngay giữa sân, cạnh gốc dừa. Bọn trật tự ưa nh́n các nơi kín đáo, ngóc nghách mà chẳng mấy để mắt đến chỗ rất hớ hênh. Một nguyên tắc khác đă giúp tôi giữ được bật lửa, con dao trong hàng năm trời. Đó là: đừng để bị khám th́ sẽ không mất đồ. Trung sách là nắm bật lửa, con dao trong ḷng bàn tay. Chờ tên trật tự khám xong một nửa đồ đạc của ḿnh rồi xin phép tên cán bộ cho xếp gọn thứ đă khám vào túi. Lợi dụng lúc này, thả thứ quốc cấm vào túi xách. Thượng sách là khi sắp hàng ngoài sân, nên ngồi ở khoảng giữa hay gần cuối. Sau một hồi khám xét, trật tự và cai tù sẽ bắt đầu thấm mệt. Tù khám xong thu xếp đi vào đi ra tạo cảnh lộn xộn. Ta cứ ung dung thu xếp đồ đạc cho vào túi và làm mặt tỉnh bơ đem túi xách ba lô trở vào pḥng như một người đă được khám xét xong. Đừng nói con dao cái bật lửa; ngay cả cây súng lục (nếu có) cũng dấu được. Miễn là có bản lănh và b́nh tĩnh.

Chúng tôi đă từng đem vào trại cả buồng chuối, bó củi, chục củ khoai lang mà không hề bị tịch thu khi bị khám xét ngoài cổng trước khi nhập trại.

 

Năm 1979, khi trại mua trồng hàng ngàn cây dừa con; chỉ có lác đác vài cây sống và lớn lên. Đại đa số trái dừa giống chui vào bụng tù nhân. Chúng tôi bẻ cây con cắm xuống đất, lấy trái dừa ăn tại chỗ hoặc mang về pḥng nạo lấy cơm dừa và mộng dừa. Hàng trăm vỏ và gáo dừa cứ tống lên trần nhà phi tang mà cả năm sau, bọn trật tự mới t́m thấy.

Mưu sinh trong trại tù c̣n nhiều h́nh thái khác, để ứng phó trong nhiều lănh vực như sức khoẻ, tâm lư, sinh lư, vân vân. Tất cả đều nhằm vào mục đích tự thích nghi với các điều kiện khắt khe để sống c̣n trong một thời gian tù rất dài, có khi gần cả đời người như trường hợp nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, Phạm Trần Anh hay tiến sĩ Nguyễn Hữu Luyện.

Cái đói khát và sự khủng bố về tinh thần lẫn vật chất trong nhà tù Cộng Sản vượt quá giới hạn chịu đựng của con người. Phải có một ư chí, một bản lănh vững vàng mới giữ được tư cách, không bị kéo xuống hàng một sinh vật giành giật, xâu xé nhau v́ miếng ăn. Những người có thăm nuôi, có của ăn dồi dào đủ hương vị dễ dàng bĩu môi lắc đầu khi thấy bạn đồng cảnh ḿnh đánh cắp củ khoai, con gà, hay vặt ngọn rau của trại, của cai tù. Trên quan điểm chính trị và đạo lư thông thường, lấy của kẻ thù đang đày đoạ ḿnh để nuôi sống bản thân không có ǵ là sai trái cả. Chúng tôi đă thấy những người giàu có đă bán ḿnh v́ chút ân huệ của trại; ngược lại cũng thấy những anh em nghèo đói mà tự chế và tự thắng được nhu cầu bản thân, nổi bật lên như những tấm gương cao quư.

 

Dĩ nhiên, con người ít nhiều có một bản năng thích ứng do thiên phú; nhưng sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu có kinh qua một quá tŕnh đào tạo từ các phong trào sinh hoạt thanh niên như Hướng Đạo, hay đuợc chuẩn bị từ các khoá học trong quân ngũ. Nhưng có những yếu tố rất quan trọng, đó là ḷng tự trọng cá nhân, niềm tự hào của quá khứ xuất thân và sự ràng buộc của những giáo dục gia đ́nh, hướng đạo, quân ngũ đă giúp cho anh em chúng tôi đứng vững vàng trong hoàn cảnh oan nghiệt.

 

Phần 12: Không Nơi Ẩn Nấp

 

Ở các trại khác c̣n nghe chuyện tù trốn thoát chứ tại Xuân Phước th́ con kiến cũng không ra lọt. Để pḥng ngừa tù trốn trại, bọn cán bộ cấm ngặt gia đ́nh tiếp tế các thực phẩm khô. Những đội tù gồm quân nhân chế độ cũ chỉ được lao động quanh quẩn gần trại; bao quanh là các đội h́nh sự. Khi xuất trại, dù mưa hay nắng, anh em phải đi chân đất. Mùa hè, cơn nắng miền trung nung cháy con đường đất, bước chân đi như dẫm lên than hồng. Mùa mưa, đường sá ngập bùn lầy lội, trong lúc bọn cán bộ ngồi trong căn nhà lô, ăn uống lu bù, th́ anh em tù vẫn phải làm việc. Bọn Việt cộng dùng sự tắm rửa như một ân huệ cho những ai làm đủ chỉ tiêu trong ngày; dù là tắm vội vàng trong một khúc suối đọng, nước quậy lên đen ngầu toàn rác rưởi pha với phân người. Trước khi ra khỏi trại, các đội phải ngồi chờ đến phiên, là lúc bọn thi đua đảo qua đảo lại kiểm soát xem có ai mang theo thứ ǵ không. Chúng tôi chỉ được mang theo một b́nh nhựa đựng nước uống mà thôi. Khi nhập trại lại một màn lục soát rất kỹ, xem tù có hái trộm rau trái hay mang vào những vật cấm. Việc xét pḥng xảy ra thường xuyên hàng tháng. Tuy vậy trong chúng tôi vẫn có người dấu được con dao, hộp quẹt, giấy mực... Hoá ra chỗ lộ liễu nhất vẫn là chỗ kín nhất. Có lần tôi để chiếc ḷ than (chúng cấm nấu nướng trong pḥng) ch́nh ́nh ngay giữa sân mà không tên nào phát hiện. Trốn, th́ cũng nhiều anh trốn, nhưng thoát th́ không. Đa số là bị bắt lại ngay quanh quẩn trong địa phương v́ dân ở đây họ sẵn sàng báo cho công an để đổi lấy thực phẩm. Đi ra xa th́ không phương kế mưu sinh. Đâu cũng là núi, rừng. Nước th́ độc, trái cây không có, thú rừng cũng không. Rừng phía tây chạy ngút ngàn về hướng Phú bổn; rừng phía Nam dẫn vào trại tù A-30 chẳng kém phần dă man; ra Bắc th́ lọt vào khu căn cứ du kích cũ của chúng, chỉ thấy toàn những khuôn mặt thù nghịch. Năm 1980, có mười bốn anh em (trong đó có Trung Úy Trần Lưu Úy, phi công F-5; Đại Úy Lê Thái Chân, Pháo binh Dù) thoát khỏi trại, giết một tên chủ tịch xă người thượng, cướp súng đi về hướng Phú Bổn; nhưng sau đó bị du kích Thượng truy đuổi và bắn chết hết, chỉ c̣n Lê Thái Chân bị bắt về chịu án 18 năm. Có lần, một anh bên h́nh sự trốn về được gần sáu tháng, trốn lên miệt rừng làm rẫy, cũng bị bắt lại. Trại này có đủ cán bộ và th́ giờ cộng với sự kiên nhẫn, chúng ṃ về tận quê nhà người tù, phục kích hàng tháng trời cho đến khi bắt lại mới thôi.

 

Nhớ lại những ngày đầu tiên, ngay sau khi Việt cộng cưỡng chiếm miền Nam, chúng cho trưng bày những h́nh ảnh trong trại tù Côn sơn mà chúng gọi là “tội ác Mỹ Ngụy”. H́nh ảnh người tù bị nhốt trong những chuồng cọp, bị tra tấn đánh đập... Chúng viết những lời lẽ rất khích động về việc ngược đăi tàn nhẫn do chế độ Việt Nam Cộng Hoà hành xử đối với tù phiến cộng. Nh́n kỹ mới thấy những tấm h́nh đó rất cũ, chụp từ thời c̣n mồ ma thực dân Pháp, với những người lính cai tù mặc chiếc quần sọt rộng thùng th́nh, trên đầu đội mũ vải rộng vành của lính viễn chinh. Tất cả những ǵ xấu xa mà chúng có, chúng đều gán cho ta; c̣n dành về phần chúng những ǵ cao quư nhất, tốt đẹp nhất. Thời chiến tranh, chúng ta đă tôn trọng Công ước Geneve về việc đối xử với tù binh. Chúng ta trả chi phí ba dollars mỗi ngày cho một người tù binh. Họ tổ chức lấy ban kiểm thực, được quyền từ chối những thực phẩm thiếu chất lượng. Mỗi tuần phải cho họ hai bữa ăn ngọt, hoặc chè, hoặc bánh. Đau ốm th́ có cả container thuốc tây để điều trị. Tôi nhớ có lần gặp chuyến bay chuyển tù từ Saigon ra Đà Nẵng, người tù Cộng Sản được phát bữa trưa gồm bánh ḿ và cá hộp Sumaco hoặc một khoanh chả lụa. Những người này khi được trao trả về Bắc sau Hiệp định Paris có lẽ không dám nói ra sự thực. V́ trong chế độ Cộng Sản, ai nói điều tốt cho kẻ địch là phản động. Đối với tù nhân là cán bộ, du kích miền Nam, tuy không được hưởng quy chế tù binh, có thể bị đánh đập ngay khi vừa bị bắt để tra vấn. Nhưng một khi đă chuyển vào nhà giam, nếu không có hành vi phá rối, cũng được đối xử rất nhân đạo.

 

Phần 13: Án Cải Tạo!

 

Đúng là ở Xuân Phước không thấy ngày về :

 

Đến đây th́ ở lại đây,

Đến khi bén rễ xanh cây, chửa về.

 

Vài vị linh mục trong nhóm Vinh Sơn, ra toà nhận án 5 năm. Thời gian trôi qua, hết hạn 5 năm, chờ hoài không thấy kêu lên làm thủ tục trả tự do, các vị mới hỏi và được trả lời:

- Tội các anh lớn lắm, đáng ra phải ra toà nhận thêm án, nhưng cách mạng khoan hồng chuyển qua tập trung cải tạo, khi nào xét thấy tiến bộ sẽ cho về.

Thế đấy, cái luật pháp xă hội chủ nghĩa là thế đấy. Trên một tờ báo Nhân Dân (năm 1983, không nhớ ngày), khi trả lời một câu hỏi về sự khác nhau giữa án tù và tập trung cải tạo, chúng đă giải thích rằng: “Án tập trung cải tạo dành cho những tội mà xét ra chưa đáng phải cho ra toà,” (có nghĩa là nhẹ lắm?), chúng liệt kê một số tội như “Làm gián điệp, âm mưu chống đối, lũng đoạn kinh tế...” (giải thích thế này th́ có trời mà hiểu!). Một thanh niên tên là Nguyễn Văn Phước, bị bắt tháng 5-1975 v́ tội ngủ qua đêm trong nhà người quen, khi công an đến xét hộ khẩu không có tên. Chú bị án tập trung cải tạo 3 năm, măi cho đến năm 1985 mới được tha về. Những thanh niên tù h́nh sự miền Bắc khi vào tù cải tạo đều gây thêm án giết người để được ra toà lănh án 5, 10 năm để c̣n hy vọng có ngày về hơn là chịu án tập trung cải tạo.

 

Xă hội chủ nghĩa không có luật pháp. Cộng Sản Trung hoa cướp lục địa năm 1949, măi đến năm 1972 mới có bộ h́nh luật. Cộng Sản Việt Nam nắm quyền từ năm 1945, đến 1982 mới cho ra đời bản dự thảo h́nh luật. Khi chưa có luật, chúng lên tiếng chỉ trích rằng luật pháp là công cụ của bọn tư bản để áp chế nhân dân. Khi sắp có luật, cũng cái mồm nham nhở của chúng lên án quan thầy cũ là Trung cộng (khi đó là kẻ thù không đội trời chung) đă xử oan ức cho hàng triệu người v́ không có luật trong hàng chục năm dài, trong đó hàng trăm ngàn người bị giết oan! Lật lọng, lẻo mép vốn là bản chất của Cộng Sản. 

Trong những năm đầu thập niên 80, một số cán bộ sau khi ở trong Nam lâu ngày, tiếp xúc được với dân Nam đă phần nào có cái nh́n khác đối với chúng tôi. Họ cảm phục chúng tôi về tŕnh độ, tư cách nên cư xử mềm mỏng hơn. Có cán bộ như anh Ngà, anh Hoa chẳng bao giờ để cho chúng tôi làm việc quá sức. Các anh hàng ngày chạy ngược chạy xuôi kiếm cho chúng tôi giỏ khoai lang, nồi rau muống. Họ muốn tṛ chuyện và học hỏi nơi chúng tôi. Cán bộ Lương, trong lúc nói chuyện quá trớn, tôi đề cập đến vấn đề giai cấp; anh đă chép miệng thở dài: “giai cấp nghèo khổ vẫn muôn đời nghèo khổ, chỉ có giai cấp lănh đạo là sướng thôi.”

 

Một chuyện đáng nói về một người mà đa số anh em đă quá dè chừng và nghi ngờ. Cựu trung tá Việt cộng Huỳnh Cự, sau khi ra hồi chánh với chế độ cộng hoà, đă được cử làm phụ tá bộ Chiêu hồi. Anh ở tù cùng trại, cùng nhà với tôi. Oái oăm thay, tên Thân Như Yên, trưởng trại, trước đây là thuộc cấp của Cự. Một hôm nhân đứng gần, tôi nghe tên Yên nói với anh Cự:

- Từ ngày anh ra theo giặc, bọn chúng tôi khốn đốn v́ anh...

Câu nói này như một bản án nặng nề đè lên cuộc sống tù vô vọng của Cự. Chúng nó cho anh làm đội trưởng, nhà trưởng v́ đoán rằng anh sẽ ra sức lập công -tội anh là tội chết mà. Anh chỉ tích cực trong lao động, và những mặt nổi, như sinh hoạt, học tập. C̣n báo cáo thầm kín th́ không có ai biết được. Lúc mới quen anh, tôi ưa nói chuyện và ít khi cảnh giác. Có lần tôi nói về Hồ chí Minh nhiều điều. Anh khẽ nói vào tai tôi:

- Cẩn thận cái miệng, cái mồm; nói ǵ khác th́ cũng c̣n đường sống, chứ đụng vào lănh tụ, chúng nó đập chết.

Tôi điếng người, mấy tuần lễ như ngồi trên lửa, chờ chúng gọi ra làm việc. Nhưng thời gian qua khá lâu không thấy ǵ xảy ra. Tôi biết anh Cự cũng thâm thù Cộng Sản,và anh không khi nào hại người cùng chiến tuyến mà anh đă lựa chọn. Anh hiểu Cộng Sản, nên biết chọn cho ḿnh cách cư xử đúng mực nhất để sống qua ngày.

 

Sáu năm ở trại tù Xuân Phước, thấy anh em lần lượt ra về. Đó là nhờ các phong trào đấu tranh của các hội đoàn, các chính phủ bên trời Tây. Tôi tập cho ḿnh quên đi ngày tháng, thờ ơ với việc đi, ở, hay về. Ba năm sau cùng tôi không tỏ ra mặt chống đối bên ngoài hung hăng như trước nữa, và cũng chẳng thấy nôn nóng mỗi khi sắp đến ngày có đợt tha tù. Qua thư nhà, tôi biết mẹ tôi nhờ chiếc tủ lạnh, hàng ngày bán nước đá cho bà con lối xóm; vợ tôi th́ bán gạo đong từng lít vớt vát qua ngày. Con cái th́ lớn dần trong sự ngược đăi. Có ưu tư về gia đ́nh cũng chẳng giúp giải quyết được ǵ. Bao nhiêu bà vợ, v́ vô vọng, v́ hoàn cảnh cần nơi nương tựa đă đành gạt lệ sang ngang. Tôi c̣n hạnh phúc biết có người vợ vẫn ngày đêm ngóng chồng; như mẹ tôi thủa xa xưa, một ḷng thờ chồng nuôi con khôn lớn. So với cảnh tù không án phạt, cái án tử h́nh e nhẹ nhàng thơ thới hơn nhiều; v́ chết một lần thôi là xong nợ đời. Tù cải tạo cứ dai dẳng nh́n gia đ́nh tan vỡ, nh́n thân xác tiêu hao, ư chí bị bào ṃn, đau đớn lắm. 

Nói sao cho hết bao đau thương cùng cực mà Cộng Sản đă đổ lên cuộc sống chúng ta. Bao gia đ́nh vĩnh viễn không c̣n thấy mặt người thân mà khi ra đi c̣n hẹn sẽ về sau mười lăm ngày cải tạo! Thân phụ tôi bị Việt Minh (tiền thân của Việt Cộng) bắt đi năm 1948 khi tôi vừa lên hai. Người bị đưa ra Thanh hoá, giam ở trại Lư Bá Sơ cho đến 1954 được thả ra theo quy định của Hiệp định Geneve. Nhưng người không về được đến nhà. Cộng Sản đă tổ chức đón đường thủ tiêu ngay tại Vinh những người Quốc gia mà họ e sợ về sau này. Sống trong trại tù của những năm cuối thế kỷ 20 đă khắc nghiệt như thế, thực ḷng tôi không thể h́nh dung nổi cái dă man và cùng cực mà các cụ phải trải qua trong trại Lư Bá Sơ, Đầm Đùn ba mươi năm trước đó. Nếu có một địa ngục như lời các tôn giáo thường răn đe, th́ chắc hẳn địa ngục đó cũng không sánh được với cái địa ngục mà Cộng Sản đă dành cho người quốc gia và những ai không theo họ. 

 

Mỗi năm trôi qua, tâm hồn chai ĺ thêm một tí. V́ chẳng hy vọng ngày về, nên dại ǵ mà lo lắng, ưu tư. Cứ coi như vô vi, sáng chui ra, chiều chui vào cái chuồng chật ních nhốt hàng trăm người, đủ thứ bệnh truyền nhiễm. Ơn trời cho ai nấy sống, cũng ơn trời kêu ai nấy dạ. Có nghe tin đồn sẽ có đợt về ngày Tết, ḷng tôi cũng trơ đi, không mảy may suy nghĩ đến. Cho đến ngày Tết 1985, nghe đến tên ḿnh, ngồi giữa hội trường, tôi cũng chẳng vui, chẳng thấy mừng, lạ thật!

Đối với tôi, ra khỏi trại Xuân Phước chẳng qua là một sự di chuyển từ nhà tù nhỏ đến một nhà tù lớn hơn mà thôi. Nhưng được một điều là ở cái nhà tù lớn này, chúng tôi được gần gủi với gia đ́nh để cùng nhau chia xẻ những ngày c̣n lại trong sự ngược đăi và hận thù.

Nguyễn Tuân, trong cuốn “Hà Nội Ta Đánh Mỹ Giỏi” kể lể chi tiết về khẩu phần ăn ngày Tết của Hà Nội dành cho tù binh Hoa Kỳ. Với cái bánh chưng, vài miếng thịt, ông đă dành nguyên một phần mười cuốn sách để ca ngợi ḷng nhân đạo của bọn Cộng Sản khi cho tù ăn uống như thế. Tội nghiệp cho cái xă hội bần cùng, miếng cơm không ra ǵ cũng trở thành một thứ ân sủng quư báu và được nêu ra như một hành vi cao cả!

 

Giờ đây, hơn hai mươi năm sau ngày ra tù, gần mười tám năm trên miền đất tự do, hưởng thụ dủ thứ ngon vật lạ, hưởng thụ đủ thứ tự do, làm người với đầy đủ ư nghĩa, tôi vẫn lấy làm lạ sao con người có thể phải chịu đựng phi lư sự đối xử tàn tệ, dă man. Càng thương hơn, thông cảm sâu sắc với những nỗi bất hạnh của bạn bè, chiến hữu và đồng bào c̣n kẹt ở nơi tận cùng địa ngục đó.

Ngày nay đây, hỡi các bạn từng chia xẻ niềm đau thương tủi nhục trong ṿng lao lư; hỡi những ai đang sống trong phồn hoa, sung măn, quư vị nhân danh nhân quyền, tự do, xin hăy hướng ḷng về những đồng chí, những đồng bào đang quằn quại trong các ngục tù Cộng Sản v́ sự nghiệp đấu tranh cho dân chủ, dân sinh, xin hăy làm một điều ǵ đó, dù nhỏ nhặt đến đâu, ngơ hầu rút ngắn lại các chế độ phi nhân, giải phóng con người, trả lại cho họ quyền sống xứng đáng lúc cả nhân loại đă bước vào thế kỷ 21 tràn đầy hạnh phúc, thịnh vượng.

 

(Khởi sự viết từ năm 1992, sửa chữa và thêm thắt nhiều trong gần 20 năm qua).