|
Michael Do Chuyện Trong Tù
|
||||
|
|
||||
|
|
Cuối Tầng Địa Ngục
Đỗ Văn Phúc
Chương 4 Trại Tù A-20, Xuân Phước
Phần 3: Những Ngày Cùm Biệt Giam Khi nghe tiếng khoá lách cách bên ngoài, tôi cảm thấy nhẹ nhàng. Dù sắp phải đối phó với những màn ép cung mà một lời nói sơ suất có thể mang lại những hậu quả phiền toái; hoặc có thể xảy ra màn tra tấn đánh đập như từng xảy ra khi chúng tôi bị gán tội sách động đ̣i yêu sách hồi c̣n ở trại K5 Suối Máu. Tuy nhiên, công tâm mà nói, ở Xuân Phước hơn sáu năm, anh em tù nhân có thể bị khủng bố nghiêm trọng về tinh thần, nhưng cảnh tra tấn th́ không dă man bằng ở trại Kà Tum, hay các trại miền đồng bằng Cửu Long, nơi bọn du kích, địa phương Việt Cộng quản lư trong những năm đầu. Chúng tôi vẫn coi thường những màn hỏi cung của bọn công an v́ tŕnh độ học thức, lư luận chúng rất kém cỏi. Vấn đề là phải làm sao để không hớ hênh khai báo ǵ mà có thể liên lụy cho các bạn ḿnh hay để chúng chụp thêm tội. Dù có nhận tội hay không th́ thời gian bị cùm cũng chẳng thay đổi ǵ. Đơn giản là nếu không nhận tội, th́ chúng cho là ngoan cố; mà có nhận đại cho xong, th́ chúng nó đoán sẽ c̣n nhiều điều cần truy cứu thêm. Nên trong cả hai trường hợp, chúng sẽ biệt giam cho đến khi nào gần quỵ gục th́ mới thả ra.
V́ gần cuối năm, khí hậu tương đối dễ chịu. Nếu ở một hoàn cảnh nào khác, th́ đó sẽ là một ngày đẹp trời, êm ả. Ánh nắng mai dịu dàng và khoảng trời xanh trong. Anh em tù nhân đă xuất trại lao động. Chỉ có hai ba đội đang làm cỏ chung quanh hội trường. Đó là các đội tù nhân thuộc phân trại A (hai trại A và E liền nhau, không có hàng rào ngăn cách, chung nhau một hội trường). Các anh em đó là những người ra đi trên tàu Việt Nam Thương Tín hồi cuối tháng 4 năm 75, và đă bị bọn Việt gian sách động đ̣i trở về nước sau khi đến được đảo Guam. Họ được đón tiếp trọng thể tại bờ biển Nha Trang. Có ṿng hoa choàng cổ, có diễn văn chào mừng như đối với những người con yêu trở về với dân tộc. Nhưng ngay sau đó, từng đoàn xe buưt đưa thẳng họ vào Xuân Phước, lột sạch tư trang và đưa vào đây để họ trở thành những người tiền phong xây dựng những lán trại mà bây giờ là trại A-20 khét tiếng. Những người này vừa dân sự, vừa công chức, quân nhân các cấp, bị giữ từ 3 cho đến hơn 10 năm tùy theo lư lịch trước 1975. Tuy nhiên, họ được quy chế rộng răi hơn đám tù cải tạo chúng tôi. Họ làm các công việc tương đối nhẹ nhàng, ít bị quản chế.
Hội trường cũng khá rộng. Trừ mặt sau bít kín, ba mặt kia đều có nhiều cửa sổ thông thoáng. Có hai chiếc bàn kê trên sân khấu. Tôi ngồi đối diện với tên cán bộ Luật ở bàn bên trái. Một cán bộ “giáo dục” ngồi bàn bên phải đang chăm chú đọc hồ sơ mà tôi đoán là của chính tôi. Bên ngoài anh em Việt Nam Thương Tín cũng vừa làm việc vừa lén theo dơi chúng tôi. Bắt đầu thông thường là các câu hỏi: tên họ, cấp bậc, chức vụ và tội danh. Thời gian đầu mới vào trại, bọn Cộng Sản ép chúng tôi phải nhận là ngụy quân, ngụy quyền. Nhiều anh em né tránh những danh từ điếm nhục mà kẻ thù cố gán và khai ḿnh là “Sĩ Quan Chế Độ Cũ”. Sau này, bọn cán bộ mặc nhiên chấp nhận tội danh Sĩ Quan Chế Độ Cũ này. Hôm nay, th́ từ một động lực tiềm ần nào đó, tôi đột nhiên nổi cơn ương nghạnh: - Tôi không can tội ǵ cả! Tên Luật sững sờ, buông bút gằn giọng: - Anh nói không can tội, th́ sao chúng tôi phải giữ anh ở đây? - Đúng, tôi không can tội ǵ. - Anh cầm súng Mỹ chống lại cách mạng và nhân dân. Đảng và Nhà nước đă khoan dung tha tội chết, cho anh học tập cải tạo để thành người lương thiện mà anh lại chối à? Tôi cười khẩy: - Đối với tổ quốc và nhân dân, tôi không có tội ǵ cả. Năm 1975, chúng tôi lầm về các anh nên mới đi tŕnh diện cải tạo. Nhưng đă 5 năm nay, chúng tôi nhận thức rằng các anh từ miền Bắc vào xâm chiếm miền Nam chỉ đem lại cơ hàn, đói khổ, áp bức cho đồng bào. V́ vậy, nếu chúng tôi chiến đấu, là chiến đấu cho chính nghĩa. Luật ghi nguyên văn câu nói của tôi vào biên bản rồi chuyển qua cán bộ giáo dục (Tôi quên mất tên. Nhưng anh cán bộ này hoá ra là một người tốt, sau này đă giúp một anh trốn trại. Việc bị bể, cán bộ này lănh án 5 năm ở trại tù tỉnh Phú Khánh). Đối thoại với cán bộ giáo dục cũng nhẹ nhàng, tôi vẫn giữ nguyên luận điệu. V́ thế, cuối cùng tôi được đối diện với viên trưởng trại Lê Đồng Vũ. Với cặp mắt lừ đừ, gian ác trên khuôn mặt bèn bẹt của một thổ dân bán khai miền núi, Vũ nh́n tôi và bắt bẻ thế ngồi bắt chân chữ ngũ của tôi: - Anh ngồi “nại” nghiêm túc. - Nghiêm túc là thế nào? Năm nay ông mới là Thượng uư. Năm năm trước đây tôi đă là một Đại uư. Ngồi thế này là lịch sự lắm rồi. Biết đụng đầu với một anh liều mạng, cứng đầu cứng cổ, Vũ bắt đầu lải nhải những luận điệu cũ rích về chính sách “khoan hồng độ lượng”, về cuộc chiến “chống Mỹ anh hùng.” Tôi ngồi nghe một cách lơ đăng và vẫn giữ một câu trả lời mỗi khi Vũ hỏi tôi về tội danh. Sau cùng, không c̣n kiên nhẫn, Vũ đứng dậy và gầm lên: - Chống Cộng “nà” chính nghĩa!, Hừm, tao cho mày chết rỉ cùm trong nhà kỷ “nuật”. Không biết trời xui đất khiến ǵ mà tôi cũng đâm ra liều lĩnh. Tôi rán khạc một băi đàm, nhổ toẹt ngay trước mặt Vũ. Anh cán bộ giáo dục thấy t́nh h́nh quá nguy hiểm, đă kéo tay tôi lôi đi: - Anh Phúc, bớt nóng, bớt nóng. Đi, đi mau. Mai mốt ra làm việc với tôi. Anh em tù Việt Nam Thương Tín quanh đó hầu như ngưng tất cả công việc để theo dơi từng diễn tiến. V́ thế khi cán bộ giáo dục dẫn tôi đi qua, nhiều anh đă lén đưa ngón tay cái biểu lộ sự tán đồng.
Sau này, măi cho đến khi chúng tôi bị di chuyển vào phân trại B, tên Lê Đồng Vũ thường né tránh mỗi khi vào trại mà chạm mặt với tôi. Trong khi tôi cứ xấn tới, th́ Vũ t́m lối khác để đi. Với quyền uy tuyệt đối của môt trưởng trại, chúng muốn hành hạ ǵ người tù mà chẳng được. Nhưng rơ ràng là Lê Đồng Vũ e sợ bị làm nhục mất uy t́n trước các tù nhân trong trại. Theo nội quy trại, tù nhân khi gặp cán bộ trại tù phải dở nón, đứng cách 6 bước và hô “chào cán bộ”. Cũng theo 30 điều nội quy, tù nhân phải dỡ nón mỗi khi đi qua cổng trại. Sau này ở phân trại B, có một anh đội trưởng là Đặng P. L., người Huế, cựu Tiểu đoàn trưởng thuộc một sư đoàn BB ở vùng 2, c̣n đặt thêm lệ bắt chúng tôi phải đi qua cho hết hàng dừa bên ngoài cổng trại (cũng khoảng 50 mét nữa) mới được đội nón. Chúng tôi đặt cho anh này xú danh là ông Ba Mươi; v́ nhiều lần anh ta tuyên bố rất xanh rờn: ”Khi không có cán bộ th́ có tôi.” (ư muốn cho rằng ḿnh cũng uy quyền như cán bộ. Khiếp! Về anh này, c̣n nhiều chuyện vui lắm. Tôi đă làm bài thơ nhại Kiều “Đoạn Trường Siêu Thanh” để nói về hai anh ĐPL (đội trưởng) và Nguyễn TL (tổ trưởng)
Trăm năm trong cơi tù giam, Chữ đày chữ đoạ vốn là bạn thân Suốt ngày nồng nặc mùi phân, Một buồng giam nhỏ nhốt hơn trăm người. Trong pḥng hai gă đười ươi, P. L. anh cả, em là T. L. Độc như rắn, dữ như hùm Mỗi thằng một vẻ, chẳng thua thằng nào. L. xem người ngợm khác nào, Một con khỉ gió, ra vào lom khom. Loa mồm, giải mép c̣m ṛm Rắn ghen kém độc, sói hờn thua ranh. Một hai gian ác rành rành, Sánh ngang cán bộ, xú danh để đời. L. càng nịnh thế xu thời, So bề gian ác, chẳng đời nào thua. Hai thằng cứ thế làm vua, Trại tù làm gió làm mưa một thời. Mai sau tiếng xấu để đời. Vợ con dấu mặt, miệng người truyền mau. ...
Có lần, trong một cuộc họp đội, tôi đă lên tiếng góp ư cho ĐPL : - Anh L., tôi hỏi anh mấy câu này: (1) Giờ ăn, anh có ra ngoài nhà ăn cán bộ ăn với họ, hay anh cũng đem cái chén đến nhận cơm bên thúng cơm tù của chúng tôi ? (2) Khi anh ngủ, anh có ra ngoài nhà ban Chỉ Huy ngủ chung với cán bộ hay anh cũng nằm trên chiếc sàn gỗ nhám trong nhà này? (3) Khi anh đau ốm, ai săn sóc anh? Y sĩ cán bộ hay chính anh em chúng tôi sẽ lo lắng cho anh? Tôi đề nghị anh nên trở về thực tế, đừng cứ ở trên mây. Đó là lời chân t́nh tôi nhắc nhở anh. ĐPL giả lả trả lời : - Anh giáng tôi một cái búa chứ nhắc nhở ǵ ! - Biết là cái búa th́ nên coi chừng. Bị tôi giáng nhiều cái búa như thế, ĐPL vẫn chứng nào tật nấy. Tuy nhiên, tôi chưa ghi nhận ĐPL báo cáo anh em điều ǵ nghiêm trọng. Để tránh phải chào bọn cán, anh em chúng tôi có quy ước với nhau là không đội nón, cho dù mưa to gió lớn hay nắng lửa nứt da đầu. Không cần thiết th́ không nên xáp lại gần bọn cán. Lấy đủ cớ như đau mắt, nắng chói không nh́n rơ để biện minh cho việc không chào cán bộ. Sáu năm sau, vào năm 1985, khi tôi làm thủ tục ra tù ở ban chỉ huy trại, một tên cán bộ an ninh đă cúi nh́n tận mặt tôi và lắc đầu: - Anh ”lày nà” Đỗ Văn Phúc đây. Anh mà cũng được tha th́ cũng “nạ”! Cán bộ Trưởng trại uy quyền tối cao mà anh c̣n “nàm” nhục th́ hết “lước lói”. Tôi được đưa trở lại nhà kỷ luật. Trên đường đi, tôi cũng tự trách ḿnh đă quá nông nổi để có thể bị họa lớn. Nhưng rồi cũng tự an ủi v́ đă bao lần, tôi đều chịu đựng và vượt qua. V́ sắp đến giờ phát bữa ăn trưa, là bữa ăn duy nhất trong ngày của tù biệt giam, anh cán bộ này đă ra lệnh cho nhà bếp dọn cho tôi ngay pḥng quản lư bếp. Do các anh nhà bếp - cũng là anh em quân nhân - đă chiếu cố đến một người bạn đồng cảnh xấu số, tôi được ăn khá hơn cả phần người tù thường. Khi vào pḥng giam, lợi dụng sự dễ dăi của anh cán bộ giáo dục, tôi yêu cầu anh ta lấy cho tôi một chiếc cùm lớn hơn. Tuy nhiên, tôi vẫn không được thêm thứ ǵ khác. Lại một đêm lạnh lẽo và nhức nhối cùng mối lo chờ đợi sự trả thù của tên trưởng trại, mà chắc là rất thâm độc.
Hai Muỗng Cơm, Hai Muỗng Nước
Mấy ngày sau khi tôi bị cùm, trại kiếm đủ cớ để đưa vào biệt giam thêm khoảng chục anh. Chẳng bao lâu sau đó, các pḥng biệt giam chật ních người. V́ sắp đến lễ Giáng sinh, chúng lựa những người có thành tích đấu tranh cho vào giam trước đề pḥng chuyện không hay xảy ra. Thế là chúng tôi, bốn người nằm một pḥng, hai người trên một bệ chia nhau thanh sắt cùm. Chúng tôi bắt đầu gửi tín hiệu thăm hỏi nhau và tôi được biết bên ngoài cũng đang vô cùng căng thẳng. Nhất cử nhất động đều có ăng ten theo dơi và báo cáo. V́ thế các anh khuyên tôi nên ứng xử thật khéo léo để tránh bị gán thêm tội. Mỗi ngày trong xà lim, chúng cho ăn một lần vào khoảng xế trưa. Mỗi bữa ăn là hai lát khoai ḿ chan ngập trong nước muối thật mặn và chừng hai muỗng nước uống. Cơn khát hành hạ chúng tôi đến điên người. Đói, khát, lạnh (v́ đang là mùa đông) làm cho tôi kiệt sức rất nhanh. Chiếc cùm quá chật làm rách thịt ở nhượng chân, làm độc; tôi dùng nước muối thoa lên hàng ngày. Lâu dần, chân teo lại, có thể xoay sở được. Các anh nằm bên các xà lim cạnh bày ra ca hát, đọc thơ cho lên tinh thần. Cũng có lúc tôi nhận được tiếp tế do những anh gan ĺ nhất nhảy hàng rào biệt giam chuồi vào khe cửa những miếng đường tán, chút thuốc lào. Đây là công lao của Phạm Tuế, khoá đàn em của tôi và các bạn trẻ Ngưyễn Tú Cường[1], Phạm Đức Nh́... c̣n may mắn chưa bị “tó”. Chúng tôi giải quyết cơn khát bằng cách khi một người bị kêu ra làm việc, cố gắng uống thật nhiều nước và nhúng ướt áo quần, để khi về pḥng vắt ra cho anh em khác uống. Có khi chúng tôi phải uống nước tiểu, nhưng t́nh trạng thiếu nước làm cho nước tiểu cũng quánh lại và gắt vô cùng, tưởng như uống máu của chính ḿnh. Cơn lạnh của vùng núi rừng miền trung thật khủng khiếp. Sàn xi măng th́ ẩm, trên người chẳng có ǵ che. Suốt ngày đêm chỉ gắng ngồi thu người, ôm gối run cằm cặp. Tôi kiệt đến mức xuất tinh và tiểu tiện mà không kiểm soát được, cũng không cảm giác được. H́nh như ai ở xà lim lâu ngày cũng có thể trở thành nhà triết học. Nằm buồn, khó ngủ, thời gian th́ như dừng lại. Tâm trí bắt đầu làm việc. Trước hết là ôn chuyện quá khứ, bạn bè, yêu đương; những kỷ niệm vui buồn đời lính, những ngày tháng gian khổ hiểm nguy nhưng hào hùng. Hết chuyện để suy nghĩ, tôi bắt đầu nh́n cḥng chọc vào vách tường, cố h́nh dung ra những h́nh ảnh kỳ ảo như khi ta nh́n đám mây vân cẩu. Một con thằn lằn chậm chậm ḅ ra, chạy đuổi bắt những chú muỗi no máu. Thế là thằn lằn trở thành bạn đường để tôi trao gửi tâm sự. Trời ơi, ước chi có tập giấy và cây bút để tôi ghi lại cả trăm ngàn trang tư tưởng. Có lúc quay về nghĩ đến đấng tối cao, lúc th́ cầu nguyện, lúc th́ than trách. Tôi nhớ cựu đại tá Trung hoa Quốc dân đảng Lư Thành Cầu (năm đó đă gần 80) dạy tôi một câu: “ Na ở chuy, ẉ mẵn sơ kuo cha rẩn.” (dù bất cứ đâu, ta cũng là một người quốc gia), hoặc “Thien cung mỉ dậu dằn xinh, cầy tha mẫn sẳng cung ma.” (Trời không có mắt để cho chúng nó thành công sao?). Chúa trời ôi, nếu đây là con roi điện để Chúa trừng phạt dân Nam, th́ hoá ra bọn Cộng Sản này là tay sai của Chúa sao? Cũng có lúc nghĩ rằng Chúa thử thách chúng ta, và ngày mai đây sẽ đền bù xứng đáng cho những ai vượt cơn khổ ải. Tôi đă làm được hai câu thơ, nhặt cây đinh khắc lên vách nhà giam:
Đời có gian lao mới rạng danh hào kiệt, Tù không đày đọa sao rơ mặt anh hùng
Sau cùng, gần đến ngày tết, chúng lần lượt thả chúng tôi ra. Lại nói chuyện “khoan hồng cho ra ăn tết, phải thực tâm cải tạo tốt để được sớm tha về.” Tôi vịn hàng rào, lê bộ xương khô từng bước về pḥng giam, và thấy quang cảnh hoàn toàn khác lạ. Bước qua khung cửa pḥng, thấy một sự im lặng đáng sợ. Khác với trước đây, mỗi lần có người ra khỏi xà lim là anh em kéo đến săn sóc, kẻ điếu thuốc, nguời viên đường. Lần này chỉ thấy những đôi mắt lén lút trao gửi chút ái ngại, thương cảm. Tôi nh́n thấy một nhúm thuốc lào của ai đó để dưới tấm chăn. Đến chiều, khi anh em từ lao động về đông đủ, không có cảnh ồn ào như trước kia, mà ai nấy lặng lẽ về chỗ ḿnh, lănh phần ăn, buông màn nằm im thít. Tôi được chuyển qua đội tù chính trị và được thu xếp chỗ nằm bên người đội trưởng Trần Ph., bên trái là Nguyễn Văn Ch., tổ trưởng. Hai người này là thành phần tù gọi là chính trị nhưng thuộc loại được trại tin dùng. Thế là chim bị tách đàn, trói buộc trong cái lồng vô h́nh nhưng rất chặt chẽ.
|
|||
|
|
||||